Người đàn bà uống rượu

Vậy là cuối cùng ông Cảnh – ông Giám đốc Cảnh đã ra đi. Ông ra đi không có nghĩa là ông chết. Nhưng “cái sự” ra đi của ông đối với vùng thị trấn Nghĩa Hưng heo hút này thành ra chuyện động trời còn to tát hơn cả vụ án Năm Cam.

Ông ra đi đúng chiều ba mươi Tết. Mưa nhẹ như rắc sương. Và rét. Cái rét ngọt lịm tới tận xương. Phía trước, phía sau mịt mờ hơi nước. Chiều đông phố càng vắng hơn khi ống khói nhà máy ximăng – biểu tượng sức sống nhất của vùng trung du nghèo khó này – đã im lìm không còn thả từng cuộn khói lên trời. Ông Cảnh làm giám đốc nhà máy này từ ngày nhà máy bắt đầu đặt viên gạch đầu tiên xây nền.

Ngày ấy, chiến tranh vừa đi qua, ông Cảnh vác balô về tỉnh đội chờ nhận quyết định giải ngũ. Tình cờ thế nào, ông gặp ông chủ tịch tỉnh là bạn của ông. “Ối trời ơi, cái thằng Bái học dốt nhất nhì trường huyện nhưng lại nổi tiếng nghịch ngợm và trêu gái, bây giờ làm ông to đầu tỉnh”. Nghe ông Cảnh nói, ông Bái cười sặc sụa mặt dãn nở từng khúc. Ông gật gù thừa nhận: “Mày ạ, ngay cả đến bây giờ, khi tao đã làm chủ tịch tỉnh ba bốn năm rồi mà mỗi lần về hội trường, gặp các thầy cô giáo cũ, có thầy còn hỏi tao: Này, thầy hỏi thật, em có nhờ ai làm chủ tịch tỉnh hộ không. Em mà làm được chủ tịch tỉnh, thầy không tin. Ngày xưa, em học dốt và nghịch ngợm là thế…”. Rồi ông chủ tịch tỉnh vỗ vai ông Cảnh: “Mày có tin vào tướng số không. Tao thì tao không tin – nhưng cái “sự” làm chủ tịch tỉnh của tao nó lạ lắm. Ban đầu là từ cái việc tỉnh nhà ta có ông chủ tịch Quýnh lăn đùng ra chết. Ủy ban tỉnh đã lo cho ông chủ tịch quá cố một bộ áo quan bằng gỗ gụ rồi. Ai ngờ thằng giám đốc Sở Lâm nghiệp là đệ tử ruột của ông Quýnh. Nó được ông Quýnh kéo mũi lên thành người. Bây giờ thầy nó chết nó thương. Nó hô cánh kiểm lâm lùng bằng được cây gỗ vàng tâm để làm áo quan cho thầy. Nó bảo: “Ông chủ tịch Quýnh là người có tâm có đức. Tâm đức mới là vàng. Vậy thì ông Quýnh chết phải được nằm trong áo quan bằng gỗ vàng tâm mới xứng”. Vậy là hai cỗ quan – cũng vừa được chín tháng mười ngày thì tự dưng lên cơn co giật rồi ngã vật ra chết ngay giữa lúc chủ trì cuộc họp của các đầu ngành trong tỉnh. Đến cái đám tang của ông, ai cũng bảo ông Hanh chết, là tại cái cỗ quan tài thừa của ông chủ tịch cũ để lại. Vì thế mà khi ông Hanh chết trong thường vụ tỉnh không ai nói ra nhưng không ai muốn cái chức chủ tịch tỉnh vì sợ hai cái chết của hai ông chủ tịch cũ nó thành dớp. Vậy là họ dồn chức chủ tịch cho mình, khi ấy mình mới là anh tỉnh đội phó”. Nói tới đó, ông Bái cười khùng khục. Ông bảo: “Thôi tất cả là chuyện đã rồi. Cả tao và mày đều là những thằng lính đã kinh qua chiến tranh. Tao luôn tin ở những con người đã được thử thách trong chiến tranh giữa cái sống và cái chết. Chúng ta đã không chết trong chiến tranh thì chúng ta phải biết sống thế nào trong thời bình. Vì thế mà với tư cách là chủ tịch tỉnh, tao lệnh cho mày, mày phải cởi áo lính ra và về làm giám đốc nhà máy ximăng Nghĩa Hưng. Mày phải bắt đầu từ mảnh đất chó ăn đá gà ăn sỏi ấy mà đi lên. Tao tin mày sẽ làm được. Vì mày là thằng lính. Mà đã là thằng lính thì không được cúi đầu…”.

Việc ông Cảnh nhận chức giám đốc và bắt tay xây dựng nhà máy ximăng Nghĩa Hưng là vậy. Có điều, ông Cảnh cũng thật giống ông Chủ tịch Bái ở chỗ, ông chỉ tin vào những con người đã từng đi qua chiến tranh. Thế nên ở nhà máy của ông, các cán bộ chủ chốt được ông cất nhắc, đề bạt có tới hai phần ba là bộ đội xuất ngũ, chuyển ngành. Còn công nhân, ông nhận tất tật những ai đã từng khoác áo lính, áo thanh niên xung phong hay công nhân hỏa tuyến. Cái được của ông Giám đốc Cảnh, là ở cái điểm ấy. Ông điều hành nhà máy không bằng kiến thức sách vở. Ông cũng chẳng học ai và nghe ai. Bộ máy lãnh đạo trong tay, ông cũng không cài cắm người này canh chừng người kia, ông bảo: “Quân lệnh như sơn”. Tao làm giám đốc, tao nói đứa nào cũng phải nghe. Đứa nào trái lệnh là tao đuổi. Còn tao sai, chúng mày cứ kiện lên trên. Tao còn làm một ngày cũng phải cho đàng hoàng. Mà ông đàng hoàng thật. Bắt tay xây dựng nhà máy, Nhà nước giao cho ông hàng trăm tỉ đồng. Đến khi nhà máy đi vào sản xuất một năm doanh thu cũng hàng trăm tỉ, vậy mà ông chẳng có điều tiếng gì về tiền bạc. Còn chuyện gái trai, lạy giời, cái thị trấn bé toen hoẻn vẻn vẹn có vài trăm nóc nhà xây dọc hai bên đường cái chính trông như dãy phố của trại lính thì cứ đến ngay lũ trai chưa vợ gái chưa chồng có hẹn hò yêu đương gì thì chỉ một loáng cả thị trấn đều biết, huống gì ông giám đốc. Với lại ở nhà máy này ai cũng do một tay ông tuyển dụng, cất nhắc, đề bạt. Ông bảo: “Lính của ông, đứa nào không là em thì cũng là cháu. Ông không có thèm tư túi, xí xớn với đứa nào”. Đấy, đại loại ông là thế và cũng vì thế mà ông được cả uy lẫn cả danh. Nhưng cũng thật khổ thân ông. Cả cái thị trấn này có lúc nào là không nhòm ngó, xét nét ông từ chuyện ăn chuyện mặc, cho đến chuyện họp hành, khách khứa. Họ tóc mạch cả chuyện ông chơi với những ai, thân sơ thế nào để rồi trong những câu chuyện làm quà, họ bàn tán, ngồi lê mách lẻo. Rồi cả dị nghị, đố kỵ và hiềm khích. Tất tật mọi chuyện, ông biết. Bản tính là người thảo tâm, ông bỏ ngoài tai và chậc lưỡi: “Đời mà. Đó cũng là chuyện bình thường. Người đời không ghen ghét, không đố kỵ mới là lạ”. Năm tháng cứ thế trôi đi. Cái thị trấn Nghĩa Hưng đông đúc dần lên. Các cán bộ, công nhân ở nhà máy của ông đều đã lấy vợ, lấy chồng. Ra đường, ông thường gặp một lũ trẻ con lít nhít tranh nhau chào và gọi ông bằng ông. Ông thở dài, đưa tay vuốt những sợi tóc già, bạc trắng trên đầu, nghĩ ngợi. Hóa ra mình đã già. Cuộc đời ngắn thật. Ông mong cuộc đời để cho ông hai chữ bình yên.

Nhưng cuộc đời không để cho ông bình yên, không để cho ông tận hưởng chữ nhàn… Cái sinh sự, cái sự sinh thường nảy nòi bất chợt trong cuộc sống của mỗi người. Âu cũng là lẽ thường tình. Với ông, cái sự sinh được bắt đầu cũng đơn giản, vặt vãnh như “chuyện thường ngày ở huyện”… Đó là một buổi chiều đông, ông Cảnh tản bộ xuống khu nhà ở của công nhân phân xưởng nghiền đá ở khuất nẻo phía sau nhà máy. Lần đầu tiên xuống với những người được xếp hàng cùng đinh của nhà máy, ông Cảnh thấy bâng khuâng. Đi trên con đường đá rải vội lổn nhổn, ông Cảnh thi thoảng lại trượt chân. Ông vừa đi vừa tự lục vấn chính mình, ông đã làm gì cho những con người ng¬hèo khó này ngoài mấy trăm nghìn đồng lương tháng chỉ đủ có áo quần để mặc, có cơm để ăn không đói. Mà, cuộc sống của một đời người thì rộng, dài như trời đất với biết bao nhu cầu, bao điều phức tạp, ông đâu có hiểu hết họ. Nhìn khu nhà lụp xụp của công nhân, ông Cảnh thấy xót xa, ân hận. Ông thấy mình nhỏ bé, lạc lõng như sống giữa một không gian hư ảo và ông là một người thừa. Đến lúc này ông hoang mang thực sự. Ông bức bối với chính mình. Ông hoảng hốt vì chợt nhận ra ông đã không hiểu cả chính mình. Bất giác ông buông tiếng thở dài. Cuộc đời lạ quá. Cuộc đời khó hiểu vô cùng.

Cuộc đời lạ quá.

Cuộc đời khó hiểu vô cùng.

Nhắc đi nhắc lại cái điệp khúc ấy đã đưa chân ông vào căn nhà của một người đàn bà quậy phá, và hay uống rượu trái ngược với cái tên rất đẹp – Duyên.

Duyên đến với nhà máy của ông từ những ngày đầu khởi công.

Hôm ấy là một buổi trưa hè, ông Cảnh đang đứng giữa một công trường ngổn ngang những đá, ximăng, gạch, vôi vữa và hò hét cánh thợ xây dựng thì có một người đàn bà dắt theo một đứa trẻ chừng chín, mười tuổi đến xin gặp ông. Không chút e dè, người đàn bà nói giọng xứ Nghệ:

- Em tên là Duyên. Nghe tin ông giám đốc tuyển công nhân và ưu tiên những ai đã kinh qua chiến tranh.
Nói rồi người đàn bà rút từ túi áo ra một mảnh giấy nhàu nát đưa cho ông Cảnh:
- Đây là giấy ra quân…
Không nói được hết câu, mặt người đàn bà đỏ lựng. Đôi mắt cụp xuống. Buồn trong thoáng chốc. Rồi ánh mắt đó ngước lên nhìn thẳng vào mắt ông giám đốc. Giọng xứ Nghệ nằng nặng nhưng rành rẽ:
- Giấy ra quân và cũng là kỷ luật của em. Ông có dám nhận em không?

mh_ngdanbauongruou

Minh họa của Lê Thiết Cương.

 

Ông giám đốc bối rối. Ông tròn mắt nhìn người đàn bà. Phải nói rằng, người đàn bà đứng trước mặt ông thoáng nhìn trông lam lũ, nhưng nhìn kỹ, chị có nhiều nét đẹp. Chị khoảng trên dưới ba mươi. Nước da trắng bắt nắng giòn tươi. Cổ trắng hồng và phía dưới là bộ ngực căng tròn. Nhưng đẹp nhất vẫn là đôi mắt. Đôi mắt như biết nói. Khi cúi xuống thì ươn ướt, mơ màng nhưng khi ngước lên thì sáng trong, quyết liệt. Người ta bảo những người có đôi mắt này dễ làm siêu lòng người, nhất là cánh đàn ông. Đàn ông rất dễ chết khi gặp con gái có đôi mắt ươn ướt, sáng trong…

- Trông cô mảnh mai duyên dáng thế kia liệu có làm nổi công việc đập đá của chúng tôi không? – Ông giám đốc hỏi.
- Em đã từng làm lính. Làm lính ở chiến trường gần ba năm rồi, việc gì em làm chẳng được.
- Thế thì tốt rồi nhưng cô đừng làm hư công nhân của tôi nhé!
Người đàn bà đẹp chỉ tay vào thằng bé đứng sau lưng:
- Bài học đây rồi… Đau lắm.

Ông giám đốc cười làm má người đàn bà đẹp càng đỏ và đôi mắt càng ướt long lanh. Thú thật ông giám đốc thấy dễ chịu với người đàn bà này. Cách ăn nói cứng cỏi, dứt khoát của cô ta, với lại những người có đôi mắt nhìn thẳng, quyết liệt kia đích thị là con nhà lính rồi. Nghĩ thế, ông vui. Ông gọi chánh văn phòng sắp xếp ngay cho mẹ con Duyên một căn phòng tập thể của công nhân. Còn công việc đương nhiên ông giao cô cho đội đập đá…
Sau lần gặp và nhận cô Duyên vào làm ở nhà máy của ông, lâu ông cũng quên như quên những chuyện vặt vãnh thường ngày. Cho đến một buổi giao ban gần đây, người ta lại nhắc đến tên cô Duyên – cô Duyên xinh đẹp có đôi mắt làm say lòng người nhưng lại nổi tiếng quậy phá và uống rượu. Người ta yêu cầu ông giám đốc ra quyết định buộc cô thôi việc. Mới nghe ông không tin. Rồi ông cho người đi điều tra. Việc quậy phá của cô Duyên thì không có chứng cứ và không phải. Cô chỉ bướng bỉnh, hay nổi khùng đấu tranh với những điều khuất tất của cấp trên cô hay cậy chức, cậy quyền ức hiếp công nhân. Nghe những chuyện ấy, ông giám đốc đau lòng. Thành ra lâu nay nhiều người thân tín đã lừa dối ông. Họ vẽ lên những thành tích. Họ xây bức tường hào quang vững chãi bằng giấy xung quanh ông mà ông không biết. Khi xây dựng nhà máy này, khi cất nhắc đề bạt họ, ông tin vì trong họ có nhiều người được thử thách và lớn lên trong chiến tranh, trong lao động, trong những năm tháng đất nước còn đói nghèo. Nhưng khi đã có quyền chức rồi, một số người cứ tưởng quyền chức đó là cây gậy thần để họ múa may và hưởng lạc. Lâu nay ông chỉ quen nghe những sự đổi thay. Nhà máy của ông mỗi ngày một tăng trưởng. Còn đời sống thì được nâng lên. Cái thị trấn miền trung du này ngày nào còn heo hút, còn thưa thớt bóng người với dăm chục mái nhà vách đất, ván thưng. Vậy mà, chỉ sau năm bảy năm… Năm bảy năm với một đời người thì thật ngắn, còn với sự phát triển xã hội thì chỉ như một cái chớp mắt. Thị trấn Nghĩa Hưng ngoài hai phố nhà binh của công nhân lại mới mọc lên hai dãy phố san sát nhà cao tầng với kiểu dáng mới, đẹp mà hiện đại. Những người dân nghèo hay cánh xe ôm gọi hai dãy phố đó là phố quan. Gọi như vậy oan cho các quan quá. Bởi hai dãy phố đó có cả quán xá, nhà hàng, nhà nghỉ, karaôkê, lại có cả biệt thự của các “soái” làm ăn kinh tế khá giả bên Tây bên Tàu mang tiền về xây cho gia đình và làm đẹp quê hương. Bộ mặt của thị trấn đã đổi thay. Nhà máy của ông cũng đã đổi thay. Đó là một sự thật làm ông mát lòng. Nhưng còn cuộc sống thực của mỗi người công nhân hằng ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, ông những tưởng nó cũng được đổi thay như thị trấn này. Vì thế, lâu nay ông đã nhãng quên. Ông ân hận, xót xa về điều đó. Và hôm nay, ông xuống với khu lao động, xuống với người đàn bà xinh đẹp, ngang bướng và có tật uống rượu. Duyên đang uống rượu thật. Người đàn bà vừa ngày nào đến nhà máy của ông mới ở tuổi ba mươi. Bây giờ chị đã vào tuổi bốn mươi. Duyên đẫy đà hơn, đỏ đắn hơn. Trông vẫn mặn mòi. Chỉ khác chăng là đôi mắt ướt long lanh ngày nào đã không còn nữa. Đôi mắt của người nghiện rượu thì lúc nào cũng đỏ, lại như cả mắt của người thiếu ngủ lờ đờ, ít thần sắc. Nhìn thấy ông giám đốc, Duyên cuống cuồng bối rối. Chị đặt vội chiếc cốc sành uống dở xuống chiếu. Chị đưa tay phủi vội áo quần và vuốt lại tóc. Chị lập bập, giọng run run:

- Ối giời ơi, em chào ông giám đốc. Ông giám đốc có thời gian tới thăm nhà em. Thật em không ngờ đấy. Ông giám đốc ngồi chơi, em rót nước…
- Thôi, khỏi nước nôi gì. Tôi muốn uống rượu với cô.

Nói rồi ông giám đốc ngồi phệt xuống chiếc chiếu nilông, cạnh chai rượu cuốc lủi nút lá chuối. Ông tự rót rượu vào hai chiếc chén sành. Đưa một chén cho Duyên, ông cụng ly đánh cạch, hỏi:

- Ngày nào cô cũng uống rượu sếch thế này à?
- Vâng, ngày nào em cũng uống. Ngoài giờ làm việc ra em không uống rượu thì em còn biết làm gì nữa, hả anh?
- Sao cô không lấy chồng đi!
- Nói giám đốc bỏ qua. Đàn ông thời nào nó cũng chán lắm. Thằng nào cũng ăn quả xong rồi đều nhả hột, giám đốc ạ!
- Không lấy chồng ở vậy nuôi con cũng được nhưng sao phải uống rượu?
- Người ta uống rượu để vui, còn em uống rượu để quên đi nỗi buồn. Nếu không uống rượu say làm sao em ngủ được. Sống mà thức là phải nghĩ ngợi, là phải hoài bão, phải ước mơ.

Mà em thì có hoài bão và ước mơ gì ngoài việc nuôi thằng con. Thằng con…
Nói tới đó chị như tắc nghẹn ở cổ họng, cay cay nơi sống mũi.
- Thằng nhỏ nhà cô đâu?
Người đàn bà phì cười, nói mát như hờn trách:
- Ối giời, ông hỏi được lần nữa chắc cháu bạc đầu rồi… Còn hiện cháu đang đi xe ôm ở cổng nhà máy.
- Sao cô không cho cháu học hành tử tế. Mình ít học đã khổ rồi thì đừng để nó khổ theo mình.
Mặt người đàn bà đẹp râm ran. Khóe mắt ươn ướt. Chị đưa tay quệt mặt để cố xóa đi vài giọt nước mắt rơi vội.
Vẫn tiếng ông giám đốc đều đều:
- Nếu cháu đã lớn rồi sao cô không đến nói với tôi, tôi cho cháu làm công nhân hay cho cháu một công việc gì đó…
Giọng người đàn bà buồn buồn:
- Em biết. Riêng tai tiếng của em đã làm phiền giám đốc lắm rồi. Giám đốc là người tốt, không chấp vặt. Nếu không, em đã bị đuổi việc rồi. Còn thằng con em, nó có lớn nhưng chưa có khôn.

Bố nó. Ừ nhỉ! Bố thằng bé đâu. Ông giám đốc giật mình vì ông chưa bao giờ gặp phải tình huống khó xử này. Nếu hỏi nữa, biết đâu ông sẽ chạm vào vết đau của người đàn bà đang muốn giữ kín hay muốn quên đi. Nỗi ái ngại có phần sờ sợ của ông giám đốc đến nỗi ông không dám nhìn thẳng vào mặt Duyên. Mắt ông như vô hồn, nhìn đi đẩu đâu. Ông nhìn khắp gian nhà tuềnh toàng cho tới lúc ông giật mình kinh hoàng khi nhìn lên bàn thờ thấy bức ảnh của ông, lồng kính, đóng khung viền đen đặt ngay ngắn phía sau bát hương. Ông kêu lên:

- Sao lại là thế này, cô Duyên. Sao cô lại thờ tôi. Tôi đã chết đâu?
Đến lượt Duyên bối rối. Cô lúng túng thực sự. Cô loay hoay, vòng vo và luýnh quýnh chạy quanh ông giám đốc. Nỗi sợ hãi đã làm cô không còn phải che giấu những giọt nước mắt đang rơi. Cô khóc tưng tức trong tiếng nói vội vàng:
- Không. Không phải là giám đốc đâu . Người trên bàn thờ không phải ông giám đốc. Anh ấy là bố thằng Hiến, thằng con em. Bố… bố nó đã chết… đã… đã hy sinh trong chiến tranh rồi…

Ông giám đốc không tin những điều Duyên nói. Bàn tay ông run run và nóng giận giật phăng khung ảnh thờ xuống. Đôi mắt của ông như lồi ra. Ông ngắm nhìn thật kỹ bức ảnh một người lính đội mũ tai bèo tay cầm súng AK với nét mặt nghiêm nghị. Đích thị là ảnh của ông rồi. Bức ảnh của ông do một phóng viên chiến tranh chụp ngay sau một trận đánh. Bức ảnh được đăng báo Quân đội nhân dân cùng với bài viết về chiến công của đại đội của ông năm bảy hai ở đường Chín – Nam Lào… Vậy tại sao cái người đàn bà uống rượu này lại thờ ảnh của ông. Tại sao và tại sao??? Ông Cảnh ấn bức ảnh thờ vào tay Duyên. Ông nóng lòng chờ đợi sự trả lời của Duyên.

Bức ảnh thờ là cả một câu chuyện dài. Bức ảnh gắn với cuộc đời một người con gái đẹp ở một thời hào hùng nhất của chiến tranh…

Ngày ấy, Duyên mười bảy. “Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu” thì Duyên xung phong đi bộ đội. Duyên học lớp y tá cấp tốc sáu tháng xong và vào đường Trường Sơn làm ở một binh trạm cứu thương. Cô chưa phải một lần cầm súng, cũng chưa một lần phải bắn một viên đạn nào vào quân thù. Nhưng kẻ thù đã gây nên chiến tranh và chiến tranh dưới mắt cô là một nỗi kinh hoàng. Nó như con thú hoang đầy nọc độc và nanh vuốt. Nó đã cướp đi bao sinh mạng đồng đội, đồng chí của cô và ngay chính mắt cô, ở cái binh trạm cứu thương này, đã ngày ngày phải chứng kiến những cái chết đau thương của những người lính trẻ. Trước khi chết, những người lính trẻ không một lời trối trăng và họ chỉ còn có một tiếng kêu gọi mẹ, gọi vợ, hay gọi người yêu. Một ngày trong chiến tranh, cô thấy nặng nề như một tháng, một năm. Không có đêm nào là cô không nguyền rủa kẻ thù và cũng không có mấy ngày là cô không rơi nước mắt. Cái thiên chức của người đàn bà luôn nhức nhối, trỗi dậy trong cô. Những người lính trẻ, vì vết thương quá nặng, trước khi chết gọi mẹ thì cô làm mẹ. Họ gọi vợ hay gọi người yêu thì cô làm vợ, làm người yêu. Cô ôm đầu những người lính trong tay, vuốt ve vỗ về và hát những bài hát ru. Lại có cả những lần, những người lính bị thương trong cơn mê sảng kêu gào được sờ vú mẹ, hay được ôm ấp, hôn hít người yêu. Cô làm tất tật. Cơn đau, nỗi thèm khát của những người lính dịu xuống. Họ như được thỏa lòng. Có người lính vồ vập hai bầu vú non trẻ trinh nguyên của cô như một thằng say. Rồi hai bàn tay của người lính cứ lỏng dần, lỏng dần… Khi cô cúi xuống nhìn thì người lính ấy đã chết nhưng khóe môi vẫn tươi rói một nụ cười mãn nguyện. Cô khóc và hiểu người lính ấy đã hoàn thiện xong cái chức phận của một con người…

Cho đến một lần, ngay tại binh trạm của cô diễn ra lễ truy điệu sống cho một người lính trẻ chuẩn bị bước vào trận đánh cảm tử và để giành được thắng lợi anh cần phải hy sinh.
Duyên không có được đứng trong thành phần những người có mặt trong cái giờ phút mặc niệm thiêng liêng ấy! Nhưng Duyên đã chứng kiến tất cả. Không gian lặng như tờ. Những giọng nói, những lời thề chắc nịch và cả những cái đầu ngẩng cao, kiêu hãnh cùng với bàn tay phải đặt nơi trái tim. Sự sống là bất diệt. Sự sống là báu vật của trời cho. Vậy mà những người lính trẻ đi vào cái chết nhẹ nhàng và thanh thản đến thế sao? Có thể cô còn quá trẻ, cô không thể lý giải được là vì sao? Vì sao? Nhưng có một điều chắc chắn cô hiểu được rằng người lính trẻ đi vào cái chết là vì sự sống còn của Tổ quốc. Tổ quốc là mẹ. Tổ quốc và mẹ là thiêng liêng nhất. Nghĩ thế và cô bật khóc. Cô thương cho người lính trẻ cũng trạc tuổi cô ngày mai ra trận. Anh ấy sẽ mãi mãi ra đi. Anh ấy chắc cũng như cô, chưa biết thế nào là vị ngọt hay mặn của nụ hôn gái trai. Anh ấy chưa một lần được làm đàn ông dù rằng anh ấy đã có tất cả niềm tin, lý tưởng, hoài bão và ước mơ. Người ta bảo cái góc khuất của người đàn bà là sóng ngầm. Còn trái tim người đàn bà nó như con mắt thần, nhạy cảm và rất dễ tổn thương. Quả thật, con tim của Duyên lúc này như bị ai đang bóp nghẹt. Cô đau đớn trước số phận của một con người. Nhưng trái tim cô và chức phận của người con gái mách bảo cô rằng, cô muốn được dâng hiến cho anh một lần, một lần để anh mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Cô dâng hiến, đành rằng, với một người con gái thì thân thể là công sinh thành dưỡng dục của mẹ, của cha; là báu vật thiêng liêng của tạo hóa, của đất trời. Và, lần đầu tiên cô tự nguyện biến thành đàn bà ở một đêm trời đầy sao giữa rừng Trường Sơn, giữa tiếng rền rĩ, ùng oàng của pháo địch bắn cầm canh vu vơ… Ở trong vòng tay của nhau, cả hai người đều im lặng, đều rơi nước mắt và đều cuống quít yêu nhau ngờ nghệch và vội vàng. Họ đê mê, sung sướng trong nỗi đớn đau. Sau đó, anh rối rít cảm ơn cô. Ban đầu cô cũng có ý định hỏi tên tuổi, quê quán của anh nhưng cô lại sợ anh ra đi không thanh thản. Vì thế, cô chỉ biết khóc. Khóc trong sự mãn nguyện tự đáy lòng.

Sau cái đêm, ấy, Duyên thấy người khang khác, rồi cô có mang. Cô cứ để vậy. Chấp nhận tất cả. Không một lời thanh minh. Không một lời xin lỗi; cả không một sự ân hận, nuối tiếc. Duyên cầm án kỷ luật giải ngũ ra quân. Về quê được năm tháng cô trở dạ đẻ ra thằng Hiến. Cái đứa con được sinh ra trong lần chị hiến dâng.

Thời gian cứ trôi đi, cô Duyên xinh đẹp ngày nào giờ đã thành đàn bà cùng với đứa con cứ lớn dần theo năm tháng. Cho đến một hôm, thằng Hiến lếch thếch ôm cặp sách và mếu máo chạy về. Nó túm áo Duyên, đấm thùm thụp:

- Mẹ Duyên… Mẹ Duyên nói dối con. Con ứ chơi với mẹ nữa. Con ứ đi học nữa đâu.
- Ơ kìa, Hiến! Sao con lại bỏ học? Mẹ nói dối con bao giờ?
- Thế bố con đâu? – Thằng Hiến nhìn Duyên. Nó đưa tay quệt nước mắt, nước mũi – Bạn học lớp con bảo, con là đứa con hoang. Ứ ừ, mẹ nói dối con!
Chị nói như quát:
- Mặc chúng nó! Con chỉ nên biết rằng, bố con đã hy sinh trong chiến tranh. Bố con chết như một người anh hùng.
Thằng Hiến đã thôi không khóc. Nó lại hỏi:
- Thế ảnh bố con đâu?

Ừ nhỉ. Đã bao nhiêu năm nay thằng Hiến hỏi về bố và chị đã dựng tượng đài về anh, về bố thằng Hiến bằng các câu chuyện kể gắn với cuộc chiến tranh hào hùng của dân tộc. Nhưng còn nỗi đau của chị, nỗi đau đang có thật, ngày lại ngày cứ gặm nhấm, bào mòn cuộc sống của mẹ con chị thì chỉ có chị mới thấu hiểu. Sức nặng của nỗi đau có thật đâu để dành cho con trẻ. Vì thế ngay ngày hôm sau, chị lục hết đống sách báo cũ có được trong nhà để tìm ảnh một người lính chiến đấu dũng cảm nơi chiến trường. Thật tình cờ, chị tìm được một bức ảnh người lính có gương mặt quả cảm, nghiêm nghị, đầu đội mũ tai bèo, tay lăm lăm khẩu súng. Chị cắt bức ảnh, cho lồng khung viền đen, đặt lên bàn thờ và chị nói với thằng Hiến rằng: “Đấy là bố con. Một người anh hùng!”.

Tạo hóa sao khéo xoay vần. Tạo hóa cũng lại hay trớ trêu, đẩy con người vào các hoàn cảnh éo le. Với Duyên, bức ảnh của một người lính dũng cảm và là điểm tựa tâm linh của thằng Hiến suốt mười mấy năm nay sao lỡ vô tình lại chính là ông giám đốc của Duyên hôm nay.
Duyên kể cho ông giám đốc nghe câu chuyện của cuộc đời mình bằng sự trung thực, giản dị, mộc mạc của một người lính. Ông giám đốc cũng đón nhận và nghe bằng tấm lòng, bằng sự chân thành của một người lính. Cả hai không ai trách cứ ai và họ cũng không biết an ủi nhau thế nào. Ông Cảnh cứ đứng trân trân nhìn Duyên. Rồi lại nhìn ảnh thờ của mình trong tay Duyên.

Duyên rân rấn nước mắt:

- Cả cuộc đời em không ân hận điều gì, kể cả việc đã tự nguyện hiến dâng đời con gái của em cho anh ấy. Nhưng em chỉ ân hận là đã lừa dối con mình bao nhiêu năm bằng bức ảnh này. Có lẽ cũng vì sự ân hận này và cộng với nỗi khổ của cuộc đời thành ra em nghiện rượu. Em muốn chôn vùi trong rượu để cho nó vơi bớt nỗi đau. Có phải khi người ta say, người ta dễ quên đi buồn vui, phải không ông giám đốc? Nhưng bây giờ thì rượu cũng không cứu được em nữa rồi. Sự thật về ông, sự thật về bức ảnh thờ bố thằng Hiến trắng đen rõ ràng thì thằng Hiến nó sống thế nào được. Thử hỏi, cuộc đời này có ai khổ hơn em không, hở ông giám đốc?

Người đàn bà cứ nói. Chị nói như bị thôi miên. Như nói với chính mình. Ông Cảnh xúc động đến nghẹn thở. Sống mũi ông cay cay. Muốn chừng Duyên nói nữa chắc ông sẽ khóc. Người ta bảo những người đã từng khổ, từng nghèo thường hay thương nhau, thường hay yếu lòng và dễ rơi nước mắt. Có lẽ ông sợ mình khóc, ông nói như ra lệnh:

- Tôi cấm cô không được nói với thằng bé rằng, bức ảnh thờ kia không phải là bố nó. Còn tôi, tôi sẽ nhận công khai nó là con tôi. Đứa con của tôi trong chiến tranh. Nhưng cô phải hứa với tôi rằng cô phải cho nó đi học tử tế. Đời tôi, đời bố nó phải lo đánh giặc, chúng tôi có được học hành gì đâu.

Nói rồi, ông Cảnh vội vàng đi. Ông đi như bị ma đuổi…

* * *

Vốn là người từng trải, từng binh đao trong trận mạc, binh đao trong nghiệp quan trường mấy mươi năm nay, ông Giám đốc Cảnh biết chuyện tày đình sẽ sắp xảy ra. Nó sẽ là quả bom tạ, bom tấn và nó sẽ phát nổ ở mồm của mỗi con người trong cái thị trấn này khi ông công khai nhận thằng Hiến là con ông.

Và quả bom ấy đã nổ. Nổ đúng vào tháng Tết. Bắt đầu là những lời đồn đại. Rồi điều tiếng, dị nghị, cả những tiếng cười khen chê. Mọi người nhìn ông Giám đốc Cảnh đã không còn sự linh thiêng. Linh thiêng hay không linh thiêng, ông cũng mặc, miễn là lòng ông thanh thản, vì ông đã cứu được một con người ông biết cái gì đến nó sẽ đến…

Cái sẽ đến ấy chính là gia đình ông. Bầu trời của gia đình ông xuất hiện những đám mây đen. Không khí u uất, ảm đạm bao trùm mọi lúc, mọi nơi. Nó chen và từng bữa ăn, từng ánh mắt, từng lời nói của mỗi người trong gia đình. Nó đem vào cả trong giấc ngủ thấm đẫm nước mắt và tiếng thở dài hết đêm này sang đêm khác của vợ ông. Có lần, chiến tranh nước mắt của vợ con ông làm ông khổ quá. Ông gào to giữa đêm khuya: “Các người hành hạ tôi thế này thì tôi chết!”. Vợ ông đưa tay vắt nước mũi vẩy vào góc tường và nói như chơi: “Ông quyền cao chức trọng, nhiều vợ, nhiều con, ông không việc gì phải chết. Ông để tôi chết”. Ông tưởng bà nói mát mẻ, dỗi hờn. Ai ngờ, đêm ấy bà làm thật. Bà lựa lúc ông đang vùi vào giấc ngủ muộn, bà uống một vỉ thuốc ngủ mười hai viên. Sáng ra, ông thấy bà nằm bất động. Ông lay gọi thì thấy dớt dãi mồm dớt dãi mũi của bà đùn ra nồng nặc mùi thuốc. Ông tá hỏa tam tinh khi nhìn thấy vỏ vỉ thuốc ngủ. Ông xốc bà trong tay và gọi xe đưa bà đi cấp cứu. Và bà đã sống…

Ông đưa bà từ bệnh viện của thị trấn về nhà sáng ba mươi Tết. Buổi trưa, ông làm cơm cúng tổ tiên. Ông lầm rầm cầu khấn trời đất, cầu khấn thần linh tổ tiên hãy phù hộ cho nhà máy của ông ngày một phát triển, phù hộ cho vợ con ông cho những người thân của ông khỏe mạnh, bình an. Rồi ông để lại hai lá thư. Một lá thư cho vợ con ông viết rằng ông để cho bà tất cả tài sản và con cái. Còn một lá thư ông gửi cho Ban giám đốc của nhà máy với một lời đề nghị: Nhà máy hãy thương ông. Ít nhiều ông cũng có công đóng góp xây dựng nhà máy từ những ngày đầu. Ban giám đốc nhà máy hãy nhận thằng Hiến con ông vào làm việc để nó không phải chạy xe ôm…

Chiều đông. Một ngày cuối năm 2002.

Hữu Ước
“Cả cuộc đời tôi chỉ làm báo và viết văn. Tôi không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo CAND - ANTG và VNCA cho tốt. Đấy là với tư cách một Tổng biên tập. Còn với tư cách con người thì tôi muốn cuộc sống có ý nghĩa và bình an.”