Một con người

Anh hỏi tôi cái điều quan trọng nhất cần phải có ở người công an là gì à? – Hà nói khi đưa ly cà phê lên môi nhấm nháp – Chà, khó trả lời đấy!

Gần 20 năm gắn bó với nghề hình sự trong ngành Công an, đã có biết bao chuyện đến với tôi. Vâng, chính tôi đã tiếp xúc với biết bao kẻ tội lỗi và họ phải chịu hình phạt của pháp luật. Và cũng chính tôi cũng đã dăm bảy lần cứu vớt những cuộc đời khỏi con đường tù tội.

- Chắc đó là những người không vi phạm pháp luật hay được miễn trách nhiệm về hình sự?

- Ồ, không hẳn là như vậy. Pháp luật suy cho cùng nó không phải là nhất thành bất biến. Có những việc nếu chỉ xem xét về mặt hành vi thì là phạm tội, nhưng chịu suy ngẫm và tìm tòi, lần đến cội nguồn và bản chất vấn đề, thì hành vi đó có khi lại mang lòng từ thiện.
- Riêng anh, anh đã gặp những trường hợp nào tương tự hay có dáng nét đại loại như vậy chưa?
- Vâng, có. Tôi đã gặp một lần, trong một hoàn cảnh éo le, lạ lùng. Nhưng anh không bận phải đi đâu chứ? Câu chuyện hơi dài mà…
Tôi xếp chân lại ngồi ngay ngắn, lấy lại dáng thư thái và nói:
- Tôi sẵn sàng để nghe chuyện của anh.
- Thôi được rồi. Anh còn nhớ thời kỳ tôi làm ở đội cảnh sát hình sự Công an quận Hoàn Kiếm không nhỉ?

Lần ấy, vào giữa trưa, đội hình sự của chúng tôi nhận được điện của Công an phường Chương Dương báo là tại khu tập thể Bờ Sông có một cháu bé mới đẻ được hơn một tháng bị bắt cóc. Anh biết đấy, bắt cóc trẻ con ở Hà Nội nghe lạ và mới mẻ quá. Vì thế, tuy nhận lệnh của cấp trên rồi, tôi vẫn nửa tin, nửa ngờ, nhưng khi xuống tới địa bàn, thì đó là sự thật. Cháu Đức Anh, con chị Hà Thị Nguyệt, nhà ở T2 tập thể Bờ Sông, do bà ngoại ở quê lên bế ra bờ đê hóng mát buổi chiều, gặp một người phụ nữ trẻ đẹp, lịch lãm, mặc áo hoa màu tím, cứ xoắn xuýt lấy thằng bé khen xinh, bụ bẫm, làm bà ngoại đứa bé mát lòng. Bất chợt, chị lớn của Đức Anh đi gọi bà ngoại về cho bé uống sữa. Người phụ nữ trẻ đẹp vội nói:
- Hay bà để con bế cháu cho, bà về lấy sữa ra cho cháu uống. Ở đây mát, gió hây hẩy thế này…

Bà lão nghe phải, dắt đứa cháu lớn về nhà. Đợi bà lão khuất vào ngõ, người phụ nữ bế đứa cháu lao qua đê, xuống đường lớn vẫy xe xích lô, vọt mất… Bà lão quay ra, không thấy người phụ nữ xinh đẹp, biết mất cháu, đứng khóc kêu trời. Khi chúng tôi tới, bát sữa còn hoà nước mắt đắng cay của bà lão vẫn cầm trên tay. Một tổ của đội hình sự do tôi làm tổ trưởng phối hợp với Công an phường Chương Dương bủa đi các bến xe, bến tàu và các khách sạn, nhà trọ trong toàn thành phố để truy tìm cô gái mặc áo hoa màu tím.

Vậy là một đêm trắng. Tới hai giờ đêm, chúng tôi thu quân tỏa đi các mũi về. Vẫn là bóng chim, tăm cá biết đâu mà tìm. Thực lòng với anh là tôi tức, tôi giận dữ với chính mình. Anh đừng ngạc nhiên vì cái đấy thuộc bản chất của tuổi trẻ. Tuổi trẻ ưa hiếu thắng. Với tôi, một nhà hình sự “vang bóng một thời” ở cái quận Hoàn Kiếm với nhiều vụ án hóc búa, phức tạp tới mức nào tôi còn phá được, lẽ nào chịu thua cô gái trẻ. Thú thật với anh, còn một lý do nữa khiến tôi quyết tâm trong vụ này vì thủ phạm là một cô gái đẹp, lịch lãm lại đi làm cái chuyện bắt cóc trẻ con, thật lạ lắm, hiếm lắm. Ấy, lại còn cái áo màu tím, màu của trinh tiết, thủy chung của các cô gái, sao lại khoác lên mình kẻ phạm tội. Ồ, anh đừng cười, đừng cho tôi là lẩn thẩn. Thì cứ cho là cái thời buổi này, việc mặc áo, mặc quần, màu nọ, màu kia có liên can gì đến hành động, việc làm cơ chứ. Tôi cũng đã nghĩ như vậy; nhưng cái nghề công an vốn phức tạp, cho nên phải động não, phải lao tâm, phải tìm tất cả các mối quan hệ, phải thấy cả cái tổng quát và cái cá biệt, riêng rẽ. Có khi chính cái cá biệt, riêng rẽ rất khác với đời thường, dù rất nhỏ và nếu thật để tâm mới thấy, lại chính là cái nút để tìm ra bản chất của sự việc, của một vấn đề lớn. Chính vì vậy mà đêm ấy, tôi không ngủ. Đầu tôi cứ ong ong hình ảnh cô gái trẻ đẹp, lịch lãm, mặc áo hoa màu tím… Sao lại như vậy được? Bốn giờ sáng, tôi đã mò mẫm đến các bến tàu, bến xe, dặn các cơ sở, nếu thấy ai bế đứa bé trai chừng hơn một tháng tuổi, hoặc gặp cô gái nào xinh đẹp, mặc áo hoa màu tím thì báo ngay, còn tôi “cơ động” hết điểm này đến điểm khác để đón lõng và nắm tình hình. Đúng như nhận định của chúng tôi: Cô gái ấy chưa thể đi xa. Nếu là người ở tỉnh ngoài thì dứt khoát phải xuất hiện ở bến tàu, bến xe để lên đường về. Còn người Hà Nội, thì sớm muộn gì chúng tôi cũng lần ra. Quả vậy, ba ngày sau, tại bến xe Long Biên, chúng tôi đã chộp được cô gái trẻ xinh đẹp, lịch lãm ấy; và, vẫn chiếc áo hoa màu tím trên người. Trên tay cô vẫn đang bế đứa trẻ bụ bẫm, xinh xắn. Thú thực với anh là khi nhìn thấy cô gái ấy, tôi có bị quyến rũ. Vâng! Đúng là cô ta đẹp thật, tôi không phải là nhà văn, nên không biết tả thế nào cho đúng với sắc đẹp của cô ấy. Chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, tôi vẫn không thể quên được đôi mắt của cô ấy. Đôi mắt mà khi nhìn vào đó, ta như thấy tất cả; một bầu trời cao, một màu trong xanh của biển biếc; lại có cả ánh hoàng hôn với những cánh cò chấp chới xen lẫn tiếng ru của gió mát buổi chiều; lại có cả tiếng gió giật, bão giông… Đôi mắt ấy và khuôn mặt bầu bĩnh như vầng trăng kia nào đâu có dấu hiệu gì của hành động phạm pháp. Dẫu vậy, khi nghĩ đến bổn phận của mình, tôi làm mặt lạnh, đọc lệnh bắt cô gái và đưa đứa trẻ về Công an quận. Chỉ đến khi chị Nguyệt, mẹ của cháu Đức Anh được chúng tôi báo lên, khi trông thấy đứa con đã nhào tới và vội vàng giật nó từ trong tay người con gái kia thì mặt cô ta bỗng nhạt hẳn màu, trông như tờ bạc giả.

Cô ta khóc nấc lên và đổ khuỵu xuống như một cây chuối bị phạt ngang thân. Đợi cô ta tỉnh hẳn, tôi tiến hành xét hỏi.

- Cô cho biết họ tên, quê quán? – Tôi nghiêm giọng hỏi.
Im lặng. Tôi ngẩng đầu lên, trừng mắt nhìn thẳng vào cô gái:
- Sao, tôi hỏi cô không trả lời? Chà, cô học được trường phái đá rắn ở đâu vậy? – Tôi cười mỉa mai.

Trả lời tôi chỉ là một bộ mặt trơ lì như được tạc bằng đá. Cô ta vẫn ngồi bất động và hai vành môi vẫn cắn chặt. Chán, tôi cho cô ta nghỉ. Chiều, tôi lại gọi cô ta lên và thay đổi nghệ thuật hỏi cung. Tôi động viên, và răn dụ cô ta về đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước khoan hồng cho những kẻ nào thành thật khai báo tội lỗi. Tôi lại gợi mở cho cô ta biết được rằng tội của cô ta không đáng gì, hơn nữa cô ta còn trẻ đẹp, còn có tương lai ở phía trước, điều quan trọng là phải biết dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật thì chúng tôi mới có điều kiện mở lối cho đi. Dường như cô ta cũng cảm nhận được tất cả. Khi nghe tôi nói xong, cô bỗng oà lên khóc. Những giọt nước mắt cứ quyện vào nhau thành lớp, thành dòng, chảy tràn xuống hai gò má bầu bĩnh, và rơi ướt đẫm chiếc áo hoa màu tím. Cô ta khóc như vậy đấy, nhưng trên nét mặt thì không có biểu hiện của sự lo âu, sợ hãi. Lạ thật, và tôi cũng chịu, bất lực không thể hiểu cô ta thuộc dạng người nào. Bỗng cô ta đưa hai bàn tay lên ôm lấy mặt. Những ngón tay xoãi ra, miết và chọc thẳng lên mái tóc đen dày, mượt mà. Cô ta túm và dứt tóc, mười ngón tay run lên, nổi rõ những đường gân xanh. Cô ta gào trong tiếng nấc:
- Sao tôi khổ thế hả trời?…

Minh họa của Lê Thiết Cương.

Minh họa của Lê Thiết Cương.

 

Rồi cô ta ngẩng phắt đầu lên, quất cái nhìn căng thẳng vào mặt tôi. Tôi bàng hoàng đến sững sờ, mặt tôi túa mồ hôi. Thành thực với anh không phải tôi sợ. Tôi đã gặp không ít những tên cướp của, giết người, đầu gấu, đầu bò, đại bàng, chim sẻ… Có những kẻ liều lĩnh, dữ dằn, thí mạng không biết chết là gì. Họ cũng hận thù chúng tôi đến bầm gan tím ruột, vì họ cho rằng chúng tôi đã cướp đi miếng cơm manh áo, nhiều khi cả mạng sống của họ. Thế đấy, còn ánh mắt của người con gái xinh đẹp và lịch lãm này nhìn tôi khác với ánh mắt của các loại tội phạn mà tôi đã gặp. Nó có cả sự hằn học, lòng căm thù đấy. Nhưng nó còn có một cái gì lớn lao hơn, bao trùm hơn, tổng quát hơn thế mà chúng tôi không thể tả nổi. Tôi cảm nhận thấy ánh mắt ấy chính là điểm của sự hội tụ, sự kết tinh của những tinh lực, trí tuệ, ý chí trong con người cô, ánh mắt ấy muốn nói với tôi rằng, tôi đã cướp đi tất cả tinh thần, thể xác và cả hơi thở, nhịp sống của cô. Không chịu nổi ánh mắt ấy và tôi đã ngoảnh đi, thì cô ta bỗng gào lên, giọng run qua kẽ răng:

- Các người hãy giết tôi đi!… Các người đừng để tôi sống nữa. Tôi sống mà làm gì nữa hả trời?… Ôi trời cao, đất dày ơi!… Ôi mẹ ơi! Sao đời con khổ thế hở mẹ?… Tôi nghĩ chắc cô ta lại dùng thủ đoạn gào khóc ăn vạ đây. Bất chợt, cô rời khỏi ghế hỏi cung, tụt xuống đất và lết bằng Ị đầu gối lại phía tôi. Cô túm hai ống quần của tôi, đầu ngẩng lên và ngước đôi mắt mọng đỏ nhìn tôi. Nhìn vào đôi mắt ấy, lại một lần nữa tôi sững sờ. Vì nó không còn sự hận thù. Thay vào đó là ánh mắt van vỉ, cầu xin của một con người tuyệt vọng cần sự cứu giúp. Cô nói qua hơi thở gấp gáp:

- Tôi xin ông… Tôi van ông… Ông có cách nào giết tôi chết được không? Tôi không lừa dối để xin ông thả tôi ra đâu, vì các ông có tha thì tôi cũng không thể sống được nữa. Đời tôi thế là hết rồi… Tôi nói thật lòng đấy, ông hãy giúp tôi đi… Tôi… Tôi ngàn lần đội ơn ông…
Và, ngày nào chúng tôi cũng được biết: Cô gái xinh đẹp không chịu ăn uống, chỉ nằm khóc và tìm cách tự tử.

Chúng tôi hoảng thực sự. Cuộc đời của cô gái như một dấu hỏi sừng sững trước mặt chúng tôi mà chưa có lời giải đáp. Đến nước này, chúng tôi cũng phải đành bằng mọi cách để giúp cô ta vượt qua giai đoạn khủng hoảng khốc liệt về tinh thần. Sau vài ngày, cô gái đã chịu ơn và dốc bầu tâm sự cho chúng tôi biết về lai lịch và hoàn cảnh của cô ta:

Cô ta tên là Tuyết – Ngọc Tuyết, 24 tuổi, nhà mẹ đẻ cô ở Thanh Trì. Cô có một mối tình đẹp như trong tiểu thuyết với một anh bộ đội tên là Hảo. Một dịp Ngọc Tuyết đi tắm ở Đồ Sơn, bị sóng cuốn ra biển suýt chết, may mà được anh sinh viên Hảo cùng tắm ở gần đó nhào ra cứu. Rồi họ yêu nhau và làm lễ cưới. Ngọc Tuyết về sống với gia đình chồng ở quận Lê Chân, Hải Phòng. Hảo là con một trong một gia đình khá giả, nhưng chỉ có một mẹ, một con. Anh sinh viên Hảo tốt nghiệp đại học rồi vào lính và mới về phép được gần một năm nay. Sau đó, Hảo đi chiến đấu ở Campuchia. Họ cưới nhau đã được 5 năm, vậy mà vẫn chưa có con. Ngọc Tuyết thương yêu chồng lắm nên cô rất buồn khi thấy Hảo và gia đình chỉ ước có được một đứa con trai để nối dõi tông đường và nói dại nhỡ Hảo đi chiến đấu có mệnh hệ nào… Mỗi khi nghe mẹ chồng ngồi thở than với hàng xóm rằng con dâu bà không biết đẻ, Ngọc Tuyết lại não lòng. Bà còn đánh tiếng trước rằng đợt phép này con Tuyết không biết đẻ thì đợt phép sau của Hảo, bà sẽ cho con trai bà cưới vợ hai. Cả đợt phép của Hảo, ngày nào bà mẹ chồng cũng khoá trái cửa để vợ chồng cô trong buồng. Sắp hết đợt nghỉ phép của chồng, Ngọc Tuyết giả vờ nôn oẹ. Đêm cô gối đầu tay Hảo, cô vuốt ve chồng, rồi cô úp cả bộ mặt ướt đẫm nước mắt của cô vào khuôn mặt ram ráp, ăn gió ăn nắng của Hảo và thủ thỉ:

“Anh ơi, em có thai!”. Hảo cứ ngỡ đó là những giọt nước mắt sung sướng và hạnh phúc… Mẹ chồng thì cứ đi khoe con dâu có thai khắp phố. Chồng cô đi rồi mà ngày nào bà cũng hầm gà hoặc mua hai quả trứng vịt lộn cho con dâu ăn. Bà còn dặn cô đủ điều, nào nôn oẹ thế nào, nào thèm thứ gì, cái thai hay động bên nào để bà luận xem con trai hay con gái. Ngay cả quần áo thay ra của cô, bà cũng đòi để giặt. Còn cô để đóng giả người có thai, cô phải lấy vải độn bụng to dần theo ngày tháng, sắp đến ngày đẻ, nghĩa là gần chín tháng kể từ khi chồng đi Campuchia, cô xin phép mẹ chồng về nhà mẹ đẻ ở Hà Nội để sinh nở. Cô viện lý do: Mẹ chồng già yếu quá, đẻ ở Hải Phòng, khổ cụ và khổ cả cháu; về Hà Nội, mẹ đẻ cô còn khoẻ, lại còn có các em gái. Với lại, sinh nở có khó khăn gì thì điều kiện, phương tiện ở các bệnh viện Hà Nội hiện đại hơn, bảo đảm an toàn hơn. Ngày đưa cô lên Hà Nội đẻ, bà mẹ chồng đưa cô ra tận bến xe. Bà run rẩy cầm lấy tay cô nói trong nước mắt:

- Mẹ già yếu lắm rồi, không thể lên với con được. Khi đẻ thì điện về cho mẹ ngay và nhớ là phải viết thư cho bố nó ở Cam¬puchia để bố nó mừng. Con cái cứng cáp, con cho cháu về với mẹ. Mẹ chỉ có con và cháu thôi…

Bà cụ đứng khóc, thỉnh thoảng lại đưa ống tay quệt nước mắt cho đến khi xe ôtô chở cô đi mất hút.

Về Hà Nội, cô ta có sinh đẻ gì đâu.

Nỗi thèm khát được làm mẹ, niềm mơ ước hạnh phúc một tổ ấm gia đình và sự sợ
hãi khi tình yêu bị tan vỡ, đã đẩy cô gái xinh đẹp, lịch lãm và chung thủy vào một việc làm tội lỗi. Ngày ngày cô ta đi lang thang khắp Hà Nội để tìm cho được một đứa con trai mới đẻ. Và thời cơ đã đến khi cô gặp bà cụ bế cháu Đức Anh ở ven đê sông Hồng…

- Anh ạ, khi hiểu được cuộc đời cô ta, tôi tê tái thực sự. Tôi tự hỏi: Sao cuộc đời này lắm cảnh éo le. Và phải đến khi ấy, tôi mới lý giải được ánh mắt của cô ta vì sao khi thì trong sáng như sao đêm, khi thì dữ dằn như mắt hổ đói, khi thì sợ hãi, van xin. Còn màu áo tím cô mặc thì chính cuộc đời thủy chung, trinh tiết với chồng đã nói với tôi cả rồi. Khi xuống Hải Phòng xác minh, bà mẹ chồng cứ xoắn lấy tôi, hỏi:

- Anh vừa ở Hà Nội xuống đây, chắc anh quen con Ngọc Tuyết nhà tôi, nó vừa điện cho tôi là đẻ con trai. Không biết cháu tôi thế nào? Mặt nó ra sao, mũi nó thế nào, da cháu tôi có trắng như mẹ nó không hay lại đen giống bố?

Nói rồi bà cụ khóc, chắc bà lão sung sướng lắm. Anh bảo trước hoàn cảnh ấy, tôi biết xử lý thế nào? Việc làm của cô ta vi phạm pháp luật là lẽ đương nhiên rồi, nhưng trình bày hoàn cảnh và nói rõ động cơ, mục đích việc làm của cô ta để cấp trên ra lệnh tha, cũng là một việc khó. Nhưng thả cô ta ra, thì đúng như cô ta nói, thà rằng giết cô ta đi còn nhân ái hơn, vì dù có thả ra thì tự cô cũng sẽ kết liễu đời mình hoặc cô sẽ lại đi làm chuyện liều lĩnh, vi phạm pháp luật lần thứ hai. Và, vì sự lo tròn cái hạnh phúc của riêng mình, cô ta sẽ mang lại cái đau khổ, dằn vặt cho một gia đình khác. Nghĩ về gia đình cô, tôi cứ mường tượng tới gương mặt người lính – anh Hảo, chồng cô – sạm đen lại khắc khổ, và từ hai tròng con mắt đỏ khè, trũng sâu, sẽ roi ra những giọt nước mắt đau khổ cùng cực, khi một sự thật phũ phàng đến với anh ta. Không biết liệu rồi anh ta còn đủ sức để nhấc khẩu súng lên không? Lại còn những chặng đường chiến đấu tiếp theo… Cái gì sẽ giúp anh ta vượt qua? Và bà mẹ già kia, chắc bà ta sẽ khuỵu đổ xuống không bao giờ đứng lên được nữa khi biết tin này.

Thế đấy, ba gương mặt, ba cuộc đời cứ lồng xoắn vào nhau, nhấp nhoá, quay cuồng trước mặt như thách thức, đòi hỏi tôi phải tìm ra một giải pháp tối ưu. Phải mất vài ngày trăn trở, suy nghĩ, tôi đề xuất với lãnh đạo để tôi tới Bệnh viện Bà mẹ trẻ em, liên hệ xin cho cô ta một đứa con trai. Ban đầu ý kiến ấy làm nhiều người ngạc nhiên. Kèm theo đó không ít lời bàn tán, dị nghị, nhìn tôi bằng con mắt thô thiển, trần tục, rằng tôi muốn chiếm đoạt cô gái trẻ xinh đẹp đã phạm tội bắt cóc trẻ con kia làm của riêng. Và, có cả những thằng bạn đồng nghiệp của tôi bảo tôi là thằng khùng. Họ cười, chế nhạo khi thấy tôi cứ lóng ngóng, mặt đỏ dừ, thập thò ở cửa Bệnh viện Bà mẹ trẻ em để “đón lõng” xem có bà chửa nào đến đẻ mà không muốn nuôi, để làm giấy xin. Lại phải mất gần tuần lễ, cuối cùng tôi cũng xin được một đứa con trai cho Ngọc Tuyết. Tất nhiên, tôi vừa là người bảo lãnh, vừa là cha nuôi đỡ đầu cho cháu bé. Nó kháu khỉnh lắm. Mẹ nó đặt tên cho đứa bé là Trần Công Hoàn. Ý mẹ nó muốn đứa trẻ có một cái tên kỷ niệm gắn liền với công lao của Công an Hoàn Kiếm…

- Thế từ đó tới nay, anh còn chú ý tới cuộc sống của Ngọc Tuyết và cháu Trần Công Hoàn nữa không? – Tôi hỏi.
- Thú thật là không. Vì sau đó tôi cũng lại được Bộ điều lên tăng cường cho lực lượng an ninh biên giới phía Bắc. Nhưng tôi biết chắc chắn rằng cô ta và gia đình sống hạnh phúc.
- Thế chẳng nhẽ anh không có điều kiện để tìm gặp hay thư từ gì cho gia đình Ngọc Tuyết nữa sao?
- Để làm gì kia chứ? Với nghề nghiệp của chúng tôi, xử lý các trường hợp éo le, phức tạp của cuộc đời nó là chuyện thường ngày. Duy nhất chỉ có một điều mà lúc nào tôi cũng nhớ, nó chi phối và chỉ đạo mọi suy nghĩ, việc làm của tôi là: Tất cả đều bắt đầu từ cái tâm, vì cái tâm… Cái tâm của một con người.

Nói rồi anh cười. Nụ cười mơ màng, độ lượng và bao dung như chính cuộc đời anh. Vâng, chính anh là một con người.

Hữu Ước
“Cả cuộc đời tôi chỉ làm báo và viết văn. Tôi không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo CAND - ANTG và VNCA cho tốt. Đấy là với tư cách một Tổng biên tập. Còn với tư cách con người thì tôi muốn cuộc sống có ý nghĩa và bình an.”