Một chặng đường nước Mỹ

Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ (FF) – một hình thức giao lưu văn hoá tới các gia đình của các quốc gia không cùng tiếng nói do Jimmy Carter và vợ (bà Rosalynn) chính thức thành lập năm 1976 khi ông lên nắm quyền Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Từ đó tới nay, tổ chức FF thường xuyên có các đoàn là công dân hữu nghị Mỹ đã tới các nước và người Mỹ đã thực sự cùng ăn, cùng ở tại các gia đình các nước sở tại.

Tại Việt Nam , tổ chức FF của Mỹ đã cử 2 đoàn tới các gia đình người Việt trong năm 1997. Tháng 4-1998, nhận lời mời của tổ chức FF Mỹ, Hội hữu nghị Việt – Mỹ đã tổ chức một đoàn 20 công dân hữu nghị của Việt Nam là các nhà văn, nhà báo, nhà doanh nghiệp đi thực tế “ba cùng” tại các gia đình người Mỹ trong thời gian nửa tháng.

I

 Trước ngày Đoàn công dân Hữu nghị Việt Nam lên đường sang Mỹ, anh Vũ Xuân Hồng – Phó chủ tịch Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam kiêm Tổng thư ký Hội Việt – Mỹ có gặp gỡ Đoàn. Anh nói về quan hệ Việt – Mỹ từ sau kết thúc chiến tranh (1975) và đặc biệt là sự cải thiện Việt – Mỹ trong những năm gần đây. Sau đó, anh Thuý – Vụ Bắc Mỹ trao đổi về kinh nghiệm đi lại, ăn ở trên đất Mỹ. Anh nói đại thể: Nhân dân Mỹ rất tốt, rất quý trọng người Việt bởi người Việt là biểu tượng của lòng dũng cảm, của ý chí vươn lên trong cuộc sống và có lối sống chân thực, nghĩa tình, hiếu khách. Người dân Mỹ sống rất trật tự kỷ cương, khuôn phép và rất tôn trọng những người có văn hoá, tôn trọng sự tự do cá nhân của mỗi con người. Chúng ta sang sinh hoạt, ăn ở, tiếp xúc với bạn thì nên nói năng nhẹ nhàng, đi lại nhẹ nhàng, ăn uống nhẹ nhàng. Khi ăn nhớ ngậm miệng, không nhai tóp tép, không húp xì xụp. Khi có nhu cầu gọi điện thoại hay gọi đồ uống thì nhớ xin phép bạn, hỏi bạn và trả tiền sòng phẳng dù là một chinh, dù là ta đang ở trong nhà của bạn. Anh Đăng Tuấn, Phó tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam ngồi lim dim và mủm mỉm cười ruồi, nói nhỏ:”Ông ạ, đây là bài giảng mà tôi đã được nghe cách đây mấy mươi năm khi sang Đông Âu du học…”; còn bạn Hoài Hương – một cộng tác viên của An ninh thế giới và là người đã có nhiều cuộc trường chinh tới đất Mỹ – đã điện khẩn từ thành phố Hồ Chí Minh ra phổ biến kinh nghiệm:“Khi đi nhớ chuẩn bị các loại thuốc chữa bệnh. Ở Mỹ có bệnh là phải đi khám bác sĩ, chí ít cũng 500 đôla một lần khám chưa kể toa thuốc. Vấn đề nữa là người Mỹ không hút thuốc lá ở công sở và ở các gia đình. Họ chỉ hút ở đường và bỏ mẩu thuốc vào thùng rác. Sang Mỹ không nên mặc complê – càvạt; không hút thuốc 3 số 5 vì “lỡ” gặp một vài Việt kiều quá khích họ biết ngay “cộng”, họ “quậy” là điều không hay. Và, khi ngồi trong xe ôtô nếu thấy xe Police (cảnh sát) phát tín hiệu kiểm tra thì tay chân đang ở vị trí nào cứ để nguyên như thế, không được cử động, không được quay cửa kính hoặc mở cửa xe. Vì cảnh sát Mỹ thấy người ngồi trong xe có phản ứng khác lạ là “nó” móc súng “đọp” liền. Đã có một vài người Việt ta bị cảnh sát Mỹ bắn nhầm trong trường hợp không hiểu nhau như thế? Nghe bạn dặn, tôi thấy ớn lạnh. Để lấy tinh thần trước khi đi Mỹ, tôi lần giở tiêu chí của Tổ chức sức mạnh Hữu nghị do chính Tổng thống Jimmy Carter sáng lập. Ông viết: “Ngày nay, trên thế giới, xung đột càng ngày càng diễn ra nhiều hơn. Nguyên do là bởi con người không hiểu nhau. Nhưng sự khác biệt chia tách mọi người là tín ngưỡng, chủng tộc và chính trị mà đã hằn sâu trong tư duy của mỗi con người, của một nhóm người. Khi những khác biệt này chi phối hành động của chúng ta thì hàng loạt những sự hiểu lầm sẽ dẫn tới đổ máu. Hiểu biết con người trong chính gia đình họ sẽ dẫn đến xây dựng được niềm tin và niềm tin là cốt lõi của sự hiểu biết, thông cảm. Giao lưu văn hoá đến tận nhà là một cuộc du lịch với khả năng tìm hiểu thấu đáo. Nó sẽ thành công và con người của các chủng tộc của các quốc gia hiểu biết lẫn nhau sẽ làm cho thế giới ngày một tươi sáng hơn…”. Sau đó, khi sang nước Mỹ, tìm hiểu về Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ, tôi được biết những dòng tâm sự máu thịt đầy chất con người trên mà Tổng thống Jimmy Carter đã viết khi cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam vừa mới kết thúc.

Thưa bạn đọc kính mến, “hành trang” và “ấn tượng” với nước Mỹ tôi được chuẩn bị như vậy để lên đường. Đoàn xuất phát từ sân bay quốc tế Nội Bài và dừng để chuyển chặng tại Taipei (Đài Loan). Khi làm thủ tục quá cảnh từ Đài Loan đi Los Angeles (Mỹ) không hiểu “ấn tượng” về người Mỹ thế nào mà nhân viên an ninh của Đài Loan “khiếp” đến mức đã không cho 2 người trong đoàn Việt Nam sang Mỹ với lý do: Hộ chiếu chỉ còn thời hạn 5 tháng 27 ngày trong khi Mỹ quy định là thời hạn phải có giá trị 6 tháng, mặc dù visa Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội đã cấp. Đoàn chúng tôi nài nỉ: 6 tháng với 5 tháng 27 ngày cũng không lệch với quy định là bao nhiêu, yêu cầu phía Đài Loan cứ cho đi, nếu có chịu phạt, phía Việt Nam chịu. Nhưng các nhân viên rồi cả các sĩ quan an ninh chỉ huy sân bay Taipei đều kiên quyết từ chối. Họ nói:“Không thể đùa được với người Mỹ. “Nó” một là một, hai là hai. Chúng tôi cho đi “nó” không phạt các ông mà phạt Chính phủ của chúng tôi”. Chúng tôi thở dài, đành thu xếp để hai thành viên ấy bay về nước làm lại hộ chiếu và, cũng được thêm sự hiểu biết về người Mỹ dưới con mắt của các nước được Mỹ bảo hộ như thế nào (?).

Chúng tôi “bay” qua biển Thái Bình Dương một ngày, một đêm và tới sân bay Los Angeles bang California (Mỹ) lúc 19 giờ 35 phút. Cảnh tượng đầu tiên mà chúng tôi cảm nhận tại nhà ga của sân bay: Đúng đây là đất nước của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Các nhân viên của sân bay, hải quan, an ninh đủ các chủng tộc, màu da. Tôi gặp một người Việt Nam còn trẻ chừng 25 – 30 tuổi đeo tấm biển Americas AIRLINES. Tôi hỏi thủ tục lấy tờ khai nhập cảnh, anh ta trả lời bằng một tràng tiếng Anh như chim hót. Tôi ghé sát vào tai anh ta, nói:“Anh mất gốc người Việt từ bao giờ?”. Anh ta đỏ bừng mặt, mắt tròn như dấu hỏi nhìn tôi và, sau một lúc suy nghĩ đã trả lời tôi bằng tiếng Việt với ngữ điệu không lấy gì làm thiện cảm lắm.

Chúng tôi làm thủ tục nhập cảnh vào Mỹ chóng vánh: Mỗi người không quá 2 phút. Nghĩa là chỉ phải đưa hộ chiếu, tờ khai nhập cảnh, tờ khai hải quan; nhân viên an ninh, hải quan đưa vào máy soi làm cái “rẹc” và “cộp” dấu nhập cảnh vào hộ chiếu là xong, họ trả lại giấy tờ không cần hỏi lấy một câu. Chúng tôi nhìn nhau và đều có nhận xét ban đầu: Kể ra vào Mỹ cũng “được” đấy nhỉ. Đâu thấy lục soát, hạch sách, căn vặn hộ chiếu – visa còn hạn hay hết hạn. Gớm, cái anh “Đài Bắc” mang ông “thầy” Mỹ ra dọa khiếp thế.

Đón chúng tôi tại phòng chờ lấy hành lý tại phi trường Los Angeles có khoảng trên chục ông bà người Mỹ. Họ cầm trên tay tấm bảng “Chào các bạn Việt Nam!”. Vậy là nhận ra nhau rồi. Họ là thành viên của Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị của thành phố Los Angeles, khi được thông báo Đoàn công dân Hữu nghị của Việt Nam sang Mỹ giao lưu tại hai thành phố Madison và Des Moines sẽ chuyển chặng từ Los Angeles. Các bà mẹ người Mỹ đưa ra đủ loại bánh kẹo, hoa quả, nước uống và ân cần đưa đến tận tay từng người trong Đoàn. Trong số các bà mẹ người Mỹ tới đón chúng tôi, có bà đã tới Việt Nam; hoặc là du lịch hoặc là theo con đường giao lưu hữu nghị năm 1997, còn đa phần là người chưa tới. Nhưng các bà mẹ người Mỹ đều biết Việt Nam đã qua các cuộc chiến tranh và người Việt Nam phải chịu nhiều đau khổ. Có bà mẹ đã sờ nắn khắp người chúng tôi, ôm ấp chúng tôi rất lâu như ôm ấp đứa con xa nhà lâu ngày mà bây giờ bà mới được gặp lại vậy.

Vừa tới sân bay được 10 phút và đang trong không khí đón tiếp đầm ấm, nồng nhiệt giữa chủ và khách thì chúng tôi nhận được điện của ông Chủ tịch Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ – ông Wayne Smith từ thành phố Atlanta gửi cho Đoàn. Ông viết:“Thay mặt các thành viên thuộc Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ, tôi muốn mời các bạn đến Mỹ. Phái đoàn của bạn là một bộ phận quan trọng trong tổ chức hữu nghị của chúng ta khi chúng ta tiếp tục tìm kiếm các con đường xây dựng những nhịp cầu hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ.

Khi các bạn bắt đầu tham gia Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị, tôi xin thông báo rằng: Các thành viên chủ nhà của bạn đang mong ước chia sẻ tình cảm và tiện nghi của bạn tại hai thành phố thơ mộng Madison và Des Moines. Họ và những tổ chức chủ trì ở hai thành phố này sẽ là những người tình nguyện làm việc hết sức để chuẩn bị cho bạn một chương trình tối ưu nhằm giúp bạn tìm hiểu sâu sắc đời sống Mỹ. Đây là dịp thuận lợi mà hẳn bạn khó có được từ một chuyến công du với mục đích thương mại hay một chuyến đi được chính phủ tài trợ. Tất cả những người bạn chủ nhà của bạn hy vọng ở bạn rằng bạn sẽ có cùng mong muốn tìm hiểu và phát triển tình hữu nghị mới.

Chúng tôi hy vọng rằng đây là nhóm đầu tiên trong số nhiều phái đoàn sẽ tới thăm đất nước chúng tôi. Các bạn là phái đoàn đầu tiên và điều quan trọng là chuyến viếng thăm của các bạn phải là chuyến viếng thăm thành công – cả về phía các bạn và cả những người tổ chức chúng tôi. Nếu các bạn quan niệm chuyến viếng thăm của mình là để hy vọng tìm thêm nhiều bạn mới thì tôi tin chắc rằng đây sẽ là một cuộc hành trình thú vị cho bất kỳ ai tham gia”.

Một chặng đường nước Mỹ

Một chặng đường nước Mỹ

Khi Đoàn rời Los Angeles tới sân bay Madeson đã thấy khoảng trên 20 người là người của Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị bang Wisconsin tay cầm cờ Mỹ, tay cầm cờ Việt Nam ra tận cầu thang máy bay đón Đoàn Việt Nam. Các ông bà người Mỹ tự tay gắn huy hiệu Hữu Nghị – cờ Mỹ và cờ Việt Nam – lên ngực áo các thành viên của Đoàn.

Bà Fannie Hicklin người da đen, giáo sư trường đại học ở Wisconsin đọc bài diễn văn với tiêu đề “Một thế giới bè bạn – Một thế giới hòa bình” rất xúc động nói lên nguyện vọng của nhân dân Mỹ và muốn làm bạn với người dân của tất cả các nước.

Ngay tối đầu tiên tới Des Moines, bạn Mỹ mời Đoàn Việt Nam xem dàn nhạc thuộc Trường đại học Wisconsin Varsty biểu diễn tại nhà hát Quảng trường Des Moines với sức chứa 2 vạn người. Tuy là dàn nhạc của trường đại học, nhưng thực sự nó đã là niềm tự hào của bang Wisconsin bởi quy mô hoành tráng của ban nhạc với 150 nhạc công cùng 250 diễn viên biểu diễn theo hình dáng và tầm vóc của con tàu “Titanic” huyền thoại. Dưới sự phô trương của hàng nghìn pha đèn điện tử, với âm thanh, tiếng nổ và sự cuồng nhiệt của 11.000 khán giả rất “Mỹ” đã làm nổ tung bầu trời thành phố Des Moines vốn dĩ rất thanh bình, yên ả về đêm.

Ban nhạc Wisconsin Varsty với nhạc trưởng Mike Leckrone “quái dị” đã biểu diễn nghệ thuật pha cả bạo lực, hài hước và cách tiếp thị rẻ tiền đã thực sự là trò mua vui cuốn hút một cách hả hê hơn một vạn khán giả có mặt tại nhà hát Quảng trường Des Moines.

Mở đầu chương trình biểu diễn, trước 3 màn hình cực đại chính làm phông của sân khấu là cảnh “ông bầu” nhạc trưởng Leckrone trong bộ đồ “lính tẩy” quần trắng, áo trắng, mũ trắng hớt haiã kiểu hài “Chaplin” mác France chạy loạn xạ trên đường để kịp tới nhà hát. Ông bầu vào “lộn cửa” đã phải “ẩu đả” nhào lộn đủ kiểu để tới được chỗ ngồi đúng số ghế trong vé của nhà hát.

Trong suốt 3 tiếng đồng hồ “nhạc trưởng” Leckrone cùng ban nhạc và hơn hai trăm diễn viên của nhóm Wisconsin Varsity đã biểu diễn một chương trình “thập cẩm tạp pí lù”: Từ tác phẩm All night long (Tất cả đêm tối đều dài) cho tới các giai đoạn của opera, của nhạc pop, rock, jazz, dân ca, các bài hát đồng dao lẫn những bài hát “tủ”, những bản nhạc “tủ” mà các diễn viên, nhạc công dùng tới cả trống, mõ, kèn… và “sáng tác” ngẫu hứng ngay trên sân khấu.

Thật “Mỹ” và cũng thật nghệ thuật “kiểu Mỹ” là trong đêm biểu diễn “nhạc trưởng” Leckrone đã sử dụng tới cả màn “đưa ma” thực sự tại quảng trường nhà hát. Giữa đêm diễn, bất ngờ khán giả dựng cả tóc gáy khi thấy kèn đám ma tò te tí te sầu thảm, u buồn nổi lên ở một khán đài. Rồi người ta thấy khoảng 50 diễn viên lực lưỡng vận toàn đồ đen mang kèn, trống và khiêng một quan tài phủ cờ Mỹ diễu qua sân khấu.

Chưa đủ với “tông giật” kiểu Mỹ để kích động cảm giác mạnh của hàng vạn người xem, đích thân “nhạc trưởng” Leckrone biểu diễn màn nhào lộn cùng với những tiếng nổ đùng đùng như đại bác và hàng vạn pháo hoa từ các góc khán đài bắn lên.

Ấy vậy mà các khán giả Mỹ thật hào hứng. Hơn một vạn khán giả đã không còn là khán giả; họ đã trở thành diễn viên từ lúc nào. Nhiều chương trình họ đứng cả dậy, hò reo, vỗ tay và ôm nhau nhảy cuồng nhiệt mặc dù chúng tôi hỏi một vài khán giả rằng họ có hiểu nội dung bài hát hay không thì họ lắc đầu và nói “No” – không. Chẳng hạn như bài hát “Vũ điệu gà quay”….

 II

 Danh sách Đoàn công dân Hữu nghị Việt Nam tới thăm Mỹ gửi fax nhanh cho bạn là 20 thành viên. Nhưng “tại 2 cái visa” không hợp lệ khi vào Mỹ thiếu những… 3 ngày nên Đoàn bị rớt 2 người, thành thử Đoàn Việt Nam tới Madison chỉ còn 18 người trong khi các bạn Mỹ đã lên danh sách đủ cho 20 thành viên “ba cùng” tại các gia đình của bạn. Vậy là có một gia đình của bạn không được đón thành viên nào của Việt Nam. Thấy bạn buồn, chúng tôi bèn tách “một hộ” Việt Nam hai người thành hai “hộ người Mỹ”. Vậy là được lòng bạn nhưng lại nảy sinh một tình thế: Có một thành viên Việt Nam không biết tiếng Anh lại ở một gia đình người Mỹ không biết tiếng Việt. Tuy nhiên, khi đưa ra phương án trên thì cả bạn và ta đều vui vẻ thống nhất sẽ sử dụng ngôn ngữ… câm trong giao tiếp. Bạn còn bảo: Quý nhau là ở tấm lòng...

Tôi và nhà truyền hình Trần Đăng Tuấn ở nhà Tiến sĩ Ray Event. Ông đã 65 tuổi và là giáo sư thực vật học của Trường đại học Wisconsin. Căn hộ của Tiến sĩ Ray ở trên một khu đất rộng hơn 2.000m2. Nhà làm khiêm tốn ở giữa; trước, sau, xung quanh là đất vườn trồng hoa, cây cảnh và cây lưu niên như sồi, anh đào. Nhà của ông phải qua một con đường mới tới một cái hồ lớn, ông bảo vì ở gần hồ được hưởng phong cảnh và môi trường thơ mộng của đất nước Mỹ nên Nhà nước thu tiền “cảnh quan” của gia đình ông là 12.000 USD/năm. Rồi ông chỉ những gia đình thượng lưu có biệt thự ở ven hồ đã phải đóng “thuế cảnh quan” tới 20.000 USD/năm. Ông cười và nói thêm:“Ở nước Mỹ, nếu có phải mua một cái tăm thì bạn cũng phải đóng thuế”. Gia đình ông thuộc tầng lớp trung lưu. Ông là giảng viên trường đại học, lương tháng 6.000 USD; vợ ông – bà Mary – làm ở Đài Truyền hình Madison, đã nghỉ hưu, hưởng lương bảo hiểm 1.800 USD/tháng. Cuộc sống của gia đình ông tiêu biểu cho một lối sống căn cơ, trật tự và thanh bình của người Mỹ. Gia đình ông không thiếu một cái gì và cũng không thừa một cái gì. Ông, bà mỗi người có một xe riêng, và đồ dùng trong gia đình đều được máy móc hoá, tự động hoá tới cả chiếc bàn chải đánh răng (người chủ chỉ việc há mồm đưa bàn chải vào răng và bấm nút). Gia đình Tiến sĩ Ray cũng như bất cứ một gia đình người Mỹ nào, khi đã đưa khách vào nhà là coi khách như người trong gia đình. Ông bà để chúng tôi tự do, muốn ăn gì, uống gì và làm gì tùy thích trong một căn nhà mà hầu như tất cả các phòng đều không có khoá nhưng mọi thứ đều được sắp đặt một cách ngăn nắp, đẹp đẽ và sạch tới mức tưởng như các đồ vật được khử trùng ở các phòng thí nghiệm. Chính sự tự do trong cái trật tự, kỷ cương đặc trưng kiểu Mỹ này đối với lối sống văn nghệ sĩ của chúng tôi quả là “khó thở”.

Trước hết nói về ăn. Người Mỹ cũng dùng 3 bữa ăn: sáng, trưa và tối. Người Mỹ không tính chuyện khách ăn ít hay ăn nhiều, mà điều quan trọng là những món gì đem ra là cả chủ và khách phải cố mà ăn cho hết các thứ “thực phẩm bao bì” của Mỹ. Điều này thật khổ với bữa điểm tâm buổi sáng nếu không phải là bánh mì kẹp thịt kèm với đủ các thứ bơ, mứt, dầu… thì cũng là cơm chan sữa. Bụng đã no và ngấy quá trời thì cũng cố mà nhắm mắt nuốt cho tới hạt cơm cuối cùng, thìa sữa cuối cùng trong bát kẻo người Mỹ cứ căn vặn:“Sao mày không ăn hết đi, phí quá!”.

Cái khổ thứ hai là sinh hoạt, đi lại. Tôi và Đăng Tuấn được gia đình chủ bố trí mỗi người một phòng (một tầng một và một tầng hai). Phòng nào cũng gần một phòng vệ sinh riêng biệt, trong đó từ bồn tắm cho tới lavabo, “bệ bệt” đều sạch bong không vương một hạt bụi, một giọt nước. Tắm táp và vệ sinh xong cứ phải lấy khăn thấm từng giọt nước ở các khe kẽ cửa và săm soi khắp phòng xem có lỡ rớt vài sợi tóc… để làm bạn phiền lòng. Bạn đọc cứ tưởng tượng xem, đêm đêm, trong khu nhà vắng lặng, u tịch, bạn đã cho ta cả một “thế giới tự do” lẽ nào ta lại phải mất tự do của bạn bằng tiếng dép lẹp xẹp hay tiếng sì si ùng ục của vòi xả nước trong bình, bệ khi cần phải “đào thải”, “tẩy rửa” cái thứ “cặn bã” dồn ứ trong người. Đã có những đêm, tôi rắp tâm nén… mọi nhu cầu, nhưng rồi chịu không xiết, tôi đành nín thở, rờ rẫm nhón nhẹ bước chân đến phòng vệ sinh và ri rỉ “bài tiết”, “nghệ thuật” kiểu mưa dầm để không làm ảnh hưởng tới cái “thế giới tự do” của bạn. Đã quá cực về cái khoản “đầu vào, đầu ra” rồi, tôi lại còn phải vật vã với cơn nghiện… thuốc lào. Biết cái tính xấu của mình là bỏ cái gì thì được chứ thuốc lào với tôi nó là “ruột”; không có nó, tim , gan cứ lộn phèo, đầu óc thì lơ lửng và chân tay cứ thiếu thừa thế nào nên trong túi “đồ nghề” đi Mỹ, tôi đã thủ sẵn 5 gói thuốc lào hiệu Con gà Hàng Bồ chính gốc và chiếc điếu cày nhỏ, dài một gang, nhét kỹ vào chiếc túi nilon in mác An ninh thế giới. Thưa bạn đọc, dẫu biết rằng ở Mỹ, người có văn hoá là người không hút thuốc ở các công sở và trong gia đình nhưng tôi lại được thấy, được nghe và được xem trên báo đàng hoàng; và chụp cả ảnh cảnh nhà thơ Nguyễn Duy, nhà văn Giang Minh Sài – Lê Lựu đang “bắn” điếu cày giữa thanh thiên bạch nhật ở đường phố Boston và ở cả cổng Trường đại học Harvard trước một lũ trẻ Mỹ ngó nhìn hai ông như “người Sao Hỏa” nữa kia. Vậy mà tới tôi, khi sang tới đất Mỹ, tôi không biết hút ở đâu và hút vào lúc nào? Trong ba mươi sáu kế, suy đi tính lại tôi quyết định áp dụng kế sách… chuồn ra khỏi nhà bạn ban đêm và ra đường đứng “bắn” một bi cho đỡ nhớ. “Đã” được cơn ghiền thuốc lào, nhưng hút xong rồi thì một vấn đề khác lại nảy sinh: Vậy thì giải quyết cái “bã” của bi thuốc lào sao đây? Bởi vì tôi biết rằng với người Mỹ, họ không bao giờ và không khi nào chấp nhận cái “cặn bã” từ chiếc điều cày của tôi thải ra trên đất nước họ. Trái lại, dù rằng tôi đang đứng giữa đất trời của “thế giới tự do” tôi cũng quyết không chịu để mình mất tự do khi phải lén lút đổ cái “tự do” của mình trên đất Mỹ. Nghĩ vậy nên tôi đã “nhả” bã thuốc lào vào chiếc túi nilon và tôi đã mang cả chiếc điếu cày về và bỏ vào thùng rác sân bay Nội Bài. Tôi thấy lòng mình thật thanh thản.

Trong những ngày ở nước Mỹ, chúng tôi được các bạn Mỹ đón tiếp, bố trí ăn ở, đi lại thật chu đáo. Và cũng chính được “ba cùng” với người dân Mỹ ngay trên đất Mỹ, chúng tôi đều có một ý nghĩ: Nhìn chung, người dân Mỹ cũng có nhiều tính cách giống người Việt Nam, đó là lòng nhân hậu, tốt bụng, cần cù, chịu khó, có ý thức trách nhiệm với công việc và đặc biệt là lòng yêu nước, lòng tự hào về đất nước họ. Có lẽ, ấn tượng về người Mỹ đẹp đẽ nhất trong tôi là hình ảnh của các bà mẹ người Mỹ mà tôi đã gặp. Đó là bà Mary – gia chủ của tôi, vợ Giáo sư Tiến sĩ Ray Evert. Bà Mary là một người đàn bà tuyệt vời của nước Mỹ cả về nghĩa thực con người và cả về ý tưởng, tính cách. Tuy đã 60 tuổi nhưng bà vẫn giữ được dáng nét sport (thể thao) và rất duyên dáng trong ăn mặc, giao tiếp. Công việc của bà hằng ngày: Sáng 6 giờ tập thể hình, sau đó chuẩn bị bữa ăn điểm tâm cho mình và cho chồng. 8 giờ bà tự lái xe đi làm các công việc xã hội – từ thiện cho đến chiều, trên đường về ghé xe vào siêu thị mua đồ ăn và chuẩn bị bữa ăn cho gia đình và cho cả chim chóc thiên nhiên của nước Mỹ chợt đến, chợt đi trong khuôn viên của gia đình bà. Sau bữa ăn tối, Giáo sư Tiến sĩ Ray ngồi đọc báo, xem truyền hình, còn bà Mary đeo tạp dề như một bà lao công lau dọn nhà, tỉa tót cắm hoa hoặc pha cà phê, chè cho đức ông chồng. Bà Mary cũng như bất kỳ một người đàn bà Mỹ nào mà chúng đã gặp, đã hỏi chuyện. Bà không quan tâm tới thể chế chính trị, thời cuộc. Bà không cần biết tới hiện này nước nào trên thế giới đang đánh nhau và người Mỹ đưa quân đi “thiết lập lại trật tự” của những nước nào. Trong bà cũng không hề có khái niệm “Tư bản”, “Cộng sản” hay “nhân quyền”… thậm chí ngay cả với chúng tôi – những người khách ngoại quốc đầu tiên tới gia đình, thì bà cũng chỉ cần biết rằng: Chúng tôi là người Việt Nam, là khách, là bạn của nước Mỹ, của gia đình bà và bà phải có nghĩa vụ đón tiếp, phục vụ chu đáo để chúng tôi hài lòng. Hôm đón chúng tôi từ sân bay Madison về nhà, việc đầu tiên bà bảo chúng tôi có đồ dơ bẩn gì đưa hết cho bà giặt ủi. Tôi và Đăng Tuấn đưa mắt nhìn nhau ái ngại bởi trước khi sang Mỹ, Hội Việt-Mỹ có phổ biến kinh nghiệm rằng: “Ta” nên chuẩn bị ít quà lưu niệm tặng bạn như tranh sơn mài, tranh lụa, tượng gỗ, túi thổ cẩm… những thứ “lạ”, nhẹ nhàng, mang bản sắc Việt Nam mà bạn thích. Và “ta” ở nhà bạn, buổi tối giao tiếp với đàn ông Mỹ, “ta” cũng nên có chai rượu “Lúa mới” để mời bạn”… Vì thế mà trong vali hành lý sang Mỹ của tôi có một chai rượu “Lúa mới” được xếp giữa đống quần áo và túi thổ cẩm định bụng để sang làm quà cho bạn. Ai dè trên đường “bay” hàng vạn km từ Đông sang Tây bán cầu và phải qua mấy lần transit, chai rượu “Lúa mới” bị bể vỡ từ lúc nào nên khi tới nhà bà Mary, giở vali ra thấy toàn bộ quần áo, đồ lưu niệm ướt nhòe và “ướp” toàn mùi rượu… Đã biết quá rõ người Mỹ là văn minh, là sạch sẽ từ trong nhà ra ngoài phố; lại lần đầu tiên mang “thể diện quốc gia” sang Mỹ, nên trên người tôi luôn đeo lỉnh kỉnh những máy ảnh, máy quay phim hiệu Japan loại xịn, định bụng để người Mỹ phải lóa mắt, phải kính nể cái anh trông bề ngoài thấp bé, nhẹ cân… Vậy mà, “sự” đổ bể của chai rượu trong hoàn cảnh này thì bạn đọc bảo tôi phải xử lý làm sao đây(?).

Đang trong lúc tôi như Từ Hải chôn chân giữa phòng, còn Đăng Tuấn hấp háy mắt, rinh rích cười thì cái nhạy cảm bản năng của người phụ nữ ở bà đã “cứu” tôi. Bà bảo:“Trong đồ đoàn của chúng mày có gì không ổn nên chúng mày ngại nhờ tao phải không?”. Rồi không để chúng tôi phải lý giải, bà bảo chúng tôi mở vali và bà hiểu tất cả là tại chai rượu vỡ. Bà cười đôn hậu và rất cẩn trọng mang máy hút bụi, hút tất cả các mảnh vỡ li ti của chai rượu Lúa mới vương trong đống quần áo, vật dùng của tôi, xong việc phải mất hơn tiếng đồng hồ. Sau đó bà lại hì hụi đưa vào máy giặt và cả buổi tối hôm đó bà đứng ủi một đống áo quần hổ lốn của tôi. Hằng ngày, thấy chúng tôi hay quan tâm, quan sát tới cái chức phận làm vợ, làm mẹ của bà Mary, ông Tiến sĩ Ray bảo:”Chắc chúng mày muốn tìm hiểu người đàn bà Mỹ là người như thế nào chứ gì? Tao nói để chúng mày hiểu, đừng tưởng bà ấy chỉ biết bếp núc và chỉ biết nép mình trong cái ống quần của chồng, con đâu nhé. Tao sẽ chỉ cho chúng mày thấy bà ấy hiểu về đẳng cấp xã hội như thế nào và cái giá của sự vinh quang trong lao động sáng tạo là như thế nào?”. Nói rồi ông xăng xái lôi chúng tôi vào căn phòng làm việc của ông. Trời ơi, căn phòng của một nhà trí thức lớn nước Mỹ với cơ man nào là sách sao lại kín đáo thế này? Trong lúc chúng tôi còn ngỡ ngàng ngắm nghía đủ các loại sách gáy vàng, gáy đen thì ông chỉ vào một bức ảnh có chiều ngang chừng hơn một gang tay được lồng trong một khung ảnh bình dị và được đặt ở một góc khuất nẻo, lẫn giữa các gáy sách đã ố vàng. Ông Tiến sĩ Ray nói:“Mày có biết bức ảnh ai đây không? Nó chính là bức ảnh chụp Tổng thống Jimmy Carter trao phần thưởng lớn về công trình khoa học nghiên cứu về thực vật học của tao. Ban đầu, tao định làm ảnh lớn và đặt trang trọng ở phòng khách cho oách, cho oai nhưng bà ấy bảo:”Không có Tổng thống này thì Tổng thống khác trao cho ông. Điều ấy không quan trọng mà cái quan trọng, cái quí giá nhất là ở công trình khoa học của ông có mang lại lợi ích dân sinh không? Ông vinh quang từ trong sách vở, từ trong khoa học và từ cái căn phòng mà ông làm việc đêm đêm kia. Vậy thì ông hãy mang cái bức ảnh này đặt vào trong phòng sách, phòng làm việc của ông”. Điều Tiến sĩ Ray nói về bà Mary đã làm tôi giật mình về nhận thức xã hội sâu sắc của người phụ nữ tưởng như chỉ biết bếp núc, chồng con và ăn diện kiểu Mỹ. Nhưng tôi còn ngỡ ngàng hơn một lần nữa khi bà Mary bảo sẽ đưa chúng tôi tới thăm “Nhà Trắng” của thống đốc bang và cũng là nơi làm việc của chính quyền sở tại. Tôi hỏi:“Bà đã xin phép “người ta” chưa?” thì bà trả lời:“Chưa. Nhưng chúng tao – nhân dân của bang này đã làm ra nó thì tại sao tao lại không có quyền vào. Với ngay cả thị trưởng, thống đốc bang hay tổng thống thì chúng tao cũng là người đã bầu ra họ”.

III

 Dẫu biết rằng nước Mỹ là một đất nước của Hợp chủng quốc với đa dân tộc, với đủ các loại người da trắng, da đen, da vàng, da đỏ từ Châu Á, Châu Âu, Châu Phi… hợp thành; nước Mỹ được người ta biết đến từ sự phát hiện tình cờ của nhà thám hiểm người  Ý- Christopher Columbus – vào năm 1492 và nước Mỹ có lịch sử hơn 200 năm từ Tuyên ngôn độc lập của Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ George Washington vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 với những câu bất hủ mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nhắc lại trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…” và, dẫu biết rằng cho đến nay nước Mỹ đã trở thành siêu cường về nhiều lĩnh vực thì những ngày ở nước Mỹ chúng tôi luôn luôn đi tìm cho câu hỏi: Người Mỹ – Họ là người như thế nào?

Như ở phần đầu của bài viết này, tôi đã nhắc nhiều tới lối sống, sinh hoạt của gia đình Tiến sĩ Ray Evert – một gia đình đại diện cho tầng lớp trung lưu của người Mỹ. Còn những người dân bình thường của nước Mỹ thì sao? Thật may, tôi đã tình cờ gặp David – một người dân có cuộc sống bình dị và có phần hèn kém về đẳng cấp, địa vị trong quan hệ của cộng đồng người Mỹ mà chúng tôi đã gặp. Sở dĩ tôi có nhận xét ấy là bởi trong một bữa tiệc chiêu đãi của Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị tại thành phố Des Moines tiếp bạn Việt Nam , tôi thấy có một người đàn ông đứng tuổi, cao lớn (dễ tới 2 mét) nhưng lại thật lẻ loi, câm lặng, buồn buồn giữa những người Mỹ khác hồ hởi, tự nhiên trong giao tiếp. Hỏi ra, tôi được biết anh là một người dân nghèo. Có thể là do tự anh mặc cảm về đẳng cấp xã hội thấp kém của mình và cũng có thể do quan niệm, do lối sống sòng phẳng, rạch ròi của người Mỹ: Người giàu không chơi với người nghèo. Vì thế mà chỉ đến khi tiếp xúc với chúng tôi, David mới có được nụ cười và có được sự tự tin vốn có của người Mỹ. David là một người lính đã có 2 năm ở trong quân đội viễn chinh Mỹ và đã từng tham chiến ở chiến trường Quảng Ngãi – Việt Nam từ năm 1968 cho tới đầu năm 1970. David năm nay vừa tròn 50 tuổi. Hết quân dịch và từ chiến trường Việt Nam trở về, anh được lộc Chúa cho làm nhạc công pianô ở nhà thờ Tin Lành Des Moines với sở trường chơi rất hay các bài Thánh ca. Tôi hỏi David: “David sống với ai?”. David cười chua chát:“Tao sống với một con chó và bức ảnh của thằng bạn người Việt Nam mà tao quen ở chiến trường Quảng Ngãi”. Tưởng David diễu đời, tôi cười sằng sặc. David kéo tôi ra chiếc xe hiệu Honda Civic cũ mèm, máy nổ như máy cày, chở tôi về nhà. Nhà của David cũng đầy đủ như mọi gia đình người Mỹ khác, nghĩa là có vườn trước, vườn sau trồng cỏ xanh rờn, có gara để ôtô, có tivi, tủ lạnh, bếp ga, phòng tắm, phòng ngủ, phòng ăn… David kéo tôi vào: Nhà lạnh ngắt, có mùi tanh hôi của cuộc sống thiếu vắng bàn tay người. David đẩy cửa phòng ngủ: Một con chó xù, mắt đùn dử, nhảy bổ ra và ôm cứng lấy cổ David. David chỉ tay vào một bức ảnh đã ố vàng chụp một người lính ngụy Sài Gòn chừng hơn hai mươi tuổi. Nét mặt người lính ngụy không vui, không buồn. Tôi hỏi:“David có còn liên lạc với người trong ảnh kia không?”. “Không – David nói – Từ ngày rời Việt Nam , tao không nhận được tin nó. Không biết là nó còn sống hay đã chết. Với tao, từ ngày bỏ áo lính cho tới nay, lúc nào tao cũng sống bằng hoài niệm”. Thấy David buồn, tôi hỏi về cuộc sống hiện tại của anh, David nói:“Căn nhà này tao mua 30.000 USD bằng tiền vay của ngân hàng Nhà nước và phải trả góp trong vòng 30 năm – David đưa tay vuốt cái đầu nhẵn bóng đã hói tới gáy của anh, cười khùng khục – Tao đã 50 tuổi rồi, liệu không biết có sống nổi gần 30 năm nữa để đủ trả hết nợ căn nhà này không? Luật pháp Mỹ, khi chết mà chưa trả hết nợ vay Nhà nước thì Nhà nước tịch thu nhà. Mà mày biết mỗi tháng tao phải trả nợ góp bao nhiêu không? 370 USD/tháng. Trong vòng 30 năm – có nghĩa là tổng số tiền tao phải trả là hơn 100.000 USD, gấp 5 lần với giá trị mua ban đầu. Lương tao chúa trả 1.500 USD/tháng, ngoài tiền trả nhà, tao còn phải trả góp tiền mua xe, mua tivi, tủ lạnh, bếp ga và các thứ linh tinh khác hết hơn 400 USD. Còn lại hơn 600 USD, vừa đủ nuôi tao và một con chó”. Tôi lại hỏi:“David đã từng đi lính, Nhà nước Mỹ không có chính sách ưu đãi sao?”. David trầm lặng đến một lúc lâu, rồi anh nói:“Chúng tao là người lính của một đất nước bất khả chiến bại, đó là niềm tự hào của nước Mỹ đã trải qua gần hai chục cuộc chiến tranh với các nước. Vậy mà chỉ duy nhất chúng tao thua trong cuộc chiến tranh với Việt Nam . Chúng tao là người con của nước Mỹ vĩ đại, nhưng chúng tao không mang lại vinh quang cho nước Mỹ. Chúng tao cũng như nước Mỹ không có niềm vinh dự gì để mà khoe khoang trong cuộc chiến tranh này. Vì thế mà chúng tao chịu thua thiệt trong cộng đồng người Mỹ vốn có dòng máu tự hào về một đất nước hùng cường thì cũng đúng thôi”. Nói rồi David kể cho tôi nghe buổi đón tiếp những người lính từ chiến trường Irắc trở về mới đầu tháng 4 năm nay. Anh bảo hôm đó ở thủ phủ của bang là cả một biển người và cả một rừng hoa. Người Mỹ đón những người anh hùng đã chiến thắng trở về mặc dù chưa có một người lính Mỹ nào phải bắn đến một viên đạn. Và, những người lính từ Irắc trở về được các nhà tài phiệt, các nhiệm sở của Nhà nước, của chính quyền sở tại bố trí việc làm ngay với mức lương cao. Điều David kể về thân phận hẩm hiu của những người lính viễn chinh Mỹ sau cuộc chiến ở Việt Nam trở về tôi chưa tin. Tôi nói lại với David rằng theo như tôi được biết thì đã có rất nhiều cựu chiến binh Mỹ sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam về Mỹ họ đã trở thành các nhà tư bản lớn, trở thành nghị sĩ, trở thành giáo sư, nhà văn, nhà báo và là giảng viên ở các trường đại học. David lại cười và bảo:“Họ là lớp con dòng cháu giống. Luật pháp Mỹ khi đã huy động lính cho các cuộc chiến tranh thì bất kể là con ai cũng phải vào quân ngũ. Nhưng mày thử tính xem, trong số hơn triệu người lính Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam thì số trở thành các nhà tư bản, các nghị sĩ, trí thức lớn là bao nhiêu? – Để minh chứng cho cách đánh giá của mình, David còn bảo tôi – Mày đã đi một vài bang của nước Mỹ và mày đã tiếp xúc với một số thượng nghị viện, hạ nghị viện, một số thị trưởng, thống đốc và các quan toà, mày có thấy họ đều là người giàu, là tầng lớp thượng lưu của xã hội Mỹ không? Nước Mỹ có tự do và dân chủ trong bầu cử và mọi cuộc bầu cử đều đứng đắn, không gian lận nhưng có bao giờ người nghèo có “ghế” ở các chức vụ quan trọng đâu? Vì tranh cử, ứng cử rất tốn kém thì người nghèo lấy đâu ra tiền(?) – Anh còn nói thêm – Mày cứ đến các nhà tù của Mỹ thì chỉ thấy đa phần tù nhân là nghèo. Người giàu chỉ bị cầm tù với các tội đặc biệt nghiêm trọng như giết người, buôn hêrôin với khối lượng lớn. Còn các tội khác thì người giàu bỏ số tiền lớn để thế chấp hoặc đóng tiền phạt và… ra tù. Luật pháp Mỹ là thế, rất nghiêm và rất khoái… phạt tù. Hai vợ chồng cãi nhau, đánh nhau to tiếng, nếu không phải là vợ hoặc chồng làm đơn thưa thì hàng xóm… thưa hộ. Thế là phạt… không tù thì tiền; gia chủ cho một con chó ăn cơm thừa canh cặn, hàng xóm thưa cũng phạt tù, phạt tiền… vì đã vi phạm “luật cấm hành hạ súc vật” của đất nước tự do. Nghe David nói, tôi chợt nhớ mới đây hầu như tất cả các hệ thống thông tin đại chúng của toàn cầu đều đưa tin rất đậm (có lời bình) về việc “pháp đình” nước Mỹ đã quyết định tử hình một chú chó không tuân thủ luật pháp Mỹ, đã săn đuổi một con ngựa của một chủ trang trại… cho đến khi con ngựa kiệt sức lăn ra chết, và chủ trang trại nọ đã thưa kiện đưa chú chó đó ra toà, để đến nỗi Thượng viện Mỹ phải bàn ở hai phiên họp… và quyết định một bản án tử hình dành cho chú chó.

Trong cả một thời gian dài ở nước Mỹ, ngày nào David cũng đi chơi với chúng tôi. Và, với ai trong Đoàn Việt Nam David cũng chỉ đề đạt một nguyện vọng: Được trở lại Việt Nam không phải là để khoét sâu sự ngăn cách giữa người Mỹ và người Việt mà là để chuộc lại lỗi lầm một thời đã trót cầm súng chống lại người Việt Nam bằng cách được làm bất cứ một việc gì có tính hướng thiện và thật sự hữu ích cho người Việt Nam . David bảo: “Nếu được giảng dạy tiếng Anh ở các trường học của Việt Nam là tốt nhất. David muốn có nhiều người Việt biết tiếng Anh và nhiều người Mỹ biết tiếng Việt để người Mỹ và người Việt xích lại gần nhau hơn”.

Điều mà David ước muốn thì cũng là tâm tưởng của nhiều cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam mà chúng tôi đã được kiểm chứng ở ngay trên đất Mỹ. Anh Jokle, Trạm trưởng trạm chữa cháy số 1 của thành phố Madison, đã nói với chúng tôi:“Hơn hai mươi năm trước tôi là một người lính đã cầm súng đánh các ông ở mặt trận Quảng Trị. Nhưng mười năm lại đây, tôi và các bạn tôi thường xuyên tới Việt Nam để hàn gắn lại mối bất hoà và thiết lập một nhịp cầu hữu nghị”. Bằng chứng là bằng kiến thức và nghề nghiệp của mình, người lính chữa cháy Jokle cùng với các bạn đồng nghiệp của anh đã giúp lực lượng chữa cháy của Hà Nội lắp đặt và hướng dẫn sử dụng các phương tiện chữa cháy hiện đại để đáp ứng sự phát triển của thủ đô. Trò chuyện với Jokle, tôi được biết anh bằng tuổi tôi và năm 1970 Jokle vào lính sang đánh nhau ở Việt Nam thì cũng năm đó tôi vào “lính” của bộ đội Cụ Hồ để đánh Mỹ. Tôi và Jokle ở hai trận tuyến và đều chĩa súng vào nhau một cách quyết liệt, sòng phẳng. Jokle có nhắc lại đôi chút về những “kỷ niệm” buồn ngày còn cầm súng ở mặt trận Quảng Trị năm 1971-1972. Rồi bất ngờ, Jokle ôm lấy vai tôi, xiết thật mạnh chỉ về phía bầu trời xanh êm ả, thanh bình, nói:“Thôi mày, chúng ta hãy cùng quên quá khứ đi và cùng dắt tay nhau tiến về phía trước”. Có lẽ cách nhìn của Jokle về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, về quan hệ Việt-Mỹ hiện tại và tương lai cũng là cách nhìn của đa phần nhân dân Mỹ.

Cho tới hôm nay, khi mà tôi đã rời nước Mỹ và về sống trên đất của “ta”, hít thở không khí của “ta” đã nửa tháng rồi nhưng tôi không thể nào quên được buổi chia tay với gia đình Giáo sư Tiến sĩ Ray Evert. Buổi đó, ngoài nghi lễ cám ơn, hẹn ngày gặp lại, hoặc là trên đất Mỹ, hoặc là ở Việt Nam, thì tôi – Đăng Tuấn cùng Tiến sĩ Ray Evert ngồi uống rượu và đàm đạo rất lâu những chuyện “trên trời dưới biển”. Khởi sự là việc Đài Truyền hình Mỹ đưa tin sự kiện Pônpốt đã chết và được hoả thiêu ô nhục bằng những chiếc lốp xe mục nát của tàn quân Khơme đỏ. Tiến sĩ Ray Evert hỏi chúng tôi:“Từ khi Việt Nam rút quân đội về nước thì Việt Nam có còn can thiệp gì vào công việc của người Campuchia không?”. Chúng tôi nói: “Khơme đỏ đã không những gây ra nạn diệt chủng giết hại hơn một triệu người dân Campuchia mà còn xâm phạm, giết hại đồng bào Việt Nam ở vùng biên giới. Vì thế Chính phủ và Nhà nước Việt Nam của chúng tôi đưa quân sang để đánh đổ Khơme đỏ, giúp nhân dân Campuchia lập lại hoà bình, tránh được nạn diệt chủng và cũng là để giữ yên bờ cõi, bảo vệ tính mạng của người dân Việt Nam ở vùng biên giới. Hoàn thành nhiệm vụ xong, Chính phủ chúng tôi cho rút quân về. Còn công việc nội bộ của người Campuchia thì Chính phủ của chúng tôi đã có quan điểm dứt khoát công bố cho toàn thế giới rằng đó là việc nội bộ của nhân dân Campuchia”. Nghe chúng tôi nói, Tiến sĩ Ray Evert trầm ngâm và mãi ông mới nói:”Nước nào thì cũng có công việc nội bộ của họ. Ở nước Mỹ chúng tôi thì ngay cả ở “Nhà Trắng” và ngay cả trong nhân dân Mỹ cũng có nhiều vấn đề phức tạp mà người Mỹ phải giải quyết. Vậy thì tại sao “Nhà Trắng” lại cứ phải cử con em của mình để đi thiết lập lại trật tự của các nước khác nhỉ? Chắc rằng những ngày sống trên đất Mỹ, các ông đã nhận thấy một điều là cuộc sống của người dân Mỹ quá yên ấm, thanh bình, thử hỏi có ai lại muốn con em mình phải vác súng đi đánh nhau để gửi xác ở nước người – Rồi ông nói thêm – Thời gian gần đây, qua các kênh truyền hình của Mỹ, nhân dân Mỹ đánh giá cao việc những cựu chiến binh Mỹ đã quyết tâm phanh phui việc giết hại dân lành Việt Nam ở Sơn Mỹ – Quảng Ngãi của một số quân nhân Mỹ. Cho tới nay thì người dân Mỹ đều cho rằng cuộc chiến tranh của người Mỹ ở Việt Nam là một sai lầm khủng khiếp. Nhưng có lẽ cũng vì thế mà nhân dân Mỹ đã đánh giá cao hành động chống quân dịch, phản đối chiến tranh ở Việt Nam của Tổng thống Bill Clinton lúc trẻ và việc quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam vừa qua của Bill”. Nói rồi Tiến sĩ Ray Evert rót cho tôi và nhà truyền hình Đăng Tuấn mỗi người một ly rượu đầy, ông nâng cốc cụng ly và hoan hỉ “bật mí” cho chúng tôi biết: Đầu tháng 6 này, đích thân Tổng thống Bill Clinton sẽ trao huân chương cao quý của Nhà nước Mỹ cho hai Thượng nghị sĩ John Macken và John Plery – nguyên cựu chiến binh ở Việt Nam – vì đã có công khởi đầu cho việc vận động Chính phủ Mỹ bỏ cấm vận và mở ra nhịp cầu hữu nghị Việt – Mỹ hôm nay. Và, ngày đó sẽ có cả Đại sứ ở Việt Nam Peterson cùng với ngài Đại sứ của Việt Nam ở Mỹ Nguyễn Văn Bàng…

IV

 Sẽ là thiếu sót nếu muốn nói về lối sống Mỹ lại không đề cập tới những mối quan hệ giữa người với người ở Mỹ. Trước hết, nói về thế hệ lớn tuổi ở Mỹ (từ 45 tuổi trở lên). Họ sống kỷ cương, mực thước và có phần thô cứng, song họ rất lịch sự, văn hoá. Nếp sống của lớp người lớn tuổi này bạn cứ hình dung nó được vận hành như một cỗ máy: Sáng, ai người đó dậy, tự ăn sáng tuỳ thích (vì đã có “thực phẩm bao bì” chất đầy trong tủ lạnh và các hốc tủ) và tự lái xe đi làm. Trưa, ăn ở công sở (cũng vẫn là “thực phẩm bao bì”) và chiều, lái xe về, chơi thể thao, tắm rửa, ăn tối, rồi ai về buồng người ấy và lại sống theo sở thích của từng người. Sáng chủ nhật họ đi lễ nhà thờ. Có gia đình thì cả hai vợ chồng cùng đi lễ một nhà thờ nhưng đa phần là đi lễ tại các nhà thờ khác nhau. Không hiểu từ nguồn thông tin nào nói rằng người Mỹ họ “lạ” lắm, vì thế mà trước khi đi Mỹ, một người bạn tôi dặn: Cậu đi “ở” với người Mỹ chuyến này cố tìm hiểu xem có phải vợ chồng người Mỹ ở với nhau là họ “góp gạo thổi cơm chung không?”. Sự thực không phải như thế. Tài sản của một gia đình người Mỹ là tài sản chung, tuy lương của mỗi người thì đều do “các” của ngân hàng Nhà nước giữ hộ; tiêu gì, mua gì thì chỉ việc ấn “các” vào máy, Nhà nước sẽ lấy tiền của mình ra trả hộ. Chỉ có điều, người Mỹ tiếp khách không như “ta”. Chúng tôi đã dự bốn buổi chiêu đãi của bạn ở thành phố Madison và thành phố Des Moines thì cả bốn tiệc chiêu đãi đó, mỗi “gia chủ” của chúng tôi phải đóng góp theo thực đơn của Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ ở thành phố đó phân công: “gia chủ” này thì nước ngọt; “gia chủ” khác thì bánh mỳ, rau quả; “gia chủ” kia thì thịt, bơ… Nếu là đi dã ngoại, Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị đưa cho mỗi thành viên của Đoàn Việt Nam một phong bì 4 USD và nói:“Chúng mày tự mua đồ ăn. Nếu muốn ăn thêm thứ gì thì bỏ tiền của chúng mày ra mà mua”. Người Mỹ là thế: sòng phẳng, rành mạch… cho dù là một chinh. Biết vậy nên dù là ở nhà Tiến sĩ Ray F.Evert ở, thành phố Madison, hay ở nhà vợ chồng cựu vô địch quần vợt người cao tuổi Harold ở thành phố Des Moines (họ đều là tầng lớp khá giả của nước Mỹ) thì chúng tôi cũng rạch ròi với họ thế này: Trong giấy mời ghi rõ bạn chỉ “bao” ăn, ở, nên đồ uống chúng tôi tự nguyện tự túc bằng cách ra siêu thị của Mỹ mua về và gia chủ của chúng tôi… O.K (tốt). Nhưng khó khăn nhất trong chuyến đi Mỹ không phải là chuyện ăn và uống mà là giải quyết “khâu” điện thoại về Việt Nam. Biết là bạn sẽ không hài lòng nếu chúng tôi gọi điện thoại đường dài, nên tại gia đình nhà cựu vô địch quần vợt Harold, chúng tôi thoả thuận với “gia chủ” là gọi “cuộc” điện thoại nào về nước thì chúng tôi xin thanh toán tiền “cuộc” ấy. Một tuần ở gia đình ông Harold, chúng tôi gọi năm “cuộc”, mỗi “cuộc” chừng từ 3 tới 5 phút, tổng cộng chừng 15 – 20 phút, mà giá gọi đường dài của nước Mỹ là 2USD/phút. Chúng tôi tính ang áng và đưa cho ông Harold 50 USD. Nhà vô địch quần vợt “O.K”, vui vẻ xếp tiền vào ví. Trước khi lên đường về nước, cả ông bà Tiến sĩ Ray F. Evert và ông bà cựu vô địch quần vợt Harold đều hỏi rất kỹ gia đình chúng tôi: vợ, con, tuổi tác, học hành… thế nào? Và, bà tiến sĩ Ray F.Evert gửi tặng cho vợ tôi một chiếc khăn lót nồi, con trai, con gái tôi mỗi đứa một băng nhạc với lời đề tặng rất trang trọng. Còn ông cựu vô địch quần vợt Harold tặng tôi và Đăng Tuấn mỗi người một chiếc mũ Levis và một chiếc túi thể thao chừng hai, ba USD, kèm theo lời giải thích:“Chúng mày là những người khách mà tao quí nhất đấy!”. Ngược lại, đôi ba lần, chúng tôi có mời vợ chồng nhà cựu vô địch đi ăn cơm Việt Nam tại các quán người Việt Nam ở thành phố Des Moines, có đủ các món: bún bò Huế, canh cua, nem, bún chả, dưa, cà và lẩu mắm miền Nam. Ăn các món ăn Việt Nam, vợ chồng nhà cựu vô địch quần vợt thích lắm. Cứ sau mỗi lần được chúng tôi mời là ông bà Harold cám ơn đến… mấy ngày liền. Hình như tôi có cảm tưởng rằng người Mỹ mời nhau đi ăn là trường hợp hiếm có lắm thì phải…

Trên đây là một vài nét chấm phá về những quan hệ giữa người Mỹ và chúng tôi – những người khách nước ngoài từ xa đến. Còn mối quan hệ giữa lớp trẻ với thế hệ lớn tuổi ở Mỹ, chúng tôi thấy mỗi gia đình người Mỹ thường là bố mẹ không sống chung với con cái khi con cái đã tới tuổi trưởng thành. Đó là một mâu thuẫn cơ bản khác biệt giữa hai thế hệ già và trẻ. Xã hội và mọi gia đình người Mỹ chỉ có trách nhiệm với những đứa trẻ khi chúng chưa tới tuổi mười tám. Còn khi đã tới tuổi mười tám thì bọn trẻ phải tự bươn chải để sống, để tồn tại. Chúng có thể đi học đại học nhưng phải vay tiền của Nhà nước để đóng tiền học, tiền thuê nhà, tiền ăn trong suốt những năm học. Sau đó, khi có việc làm thì Nhà nước trừ nợ dần. Còn những đứa trẻ không học đại học mà đi làm ngay thì chúng phải vay tiền Nhà nước mua nhà, xe và các đồ dùng thiết yếu khác để phục vụ cuộc sống. Cách giáo dục, đào tạo “rèn người” của người Mỹ nó có tính tích cực là để lớp trẻ khi đã tới tuổi trưởng thành phải biết tự lập, phải tự vươn lên và tự khẳng định mình trong cuộc sống. Nhưng điều này chỉ thích hợp với những đứa trẻ có chí hướng, khoẻ mạnh. Còn đối với những đứa trẻ yếu đuối, không có ý thức tự lập và thích dựa vào bố mẹ thì khi bị đẩy ra ngoài xã hội quá sớm chúng sẽ hụt hẫng, thất vọng và dễ hư hỏng, quậy phá. Điều này lý giải vì sao xã hội Mỹ có nhiều nhà tù, nhiều tội phạm và đa phần tội phạm ở tuổi thanh thiếu niên. Tôi xin lấy một ví dụ “nhỡn tiền”: Hôm chúng tôi được bạn mời đi xem bảo tàng chiến tranh của thành phố Madison, trên đường đi, chúng tôi thấy một xe buýt cháy chỉ còn trơ bộ khung, khói còn nghi ngút. Cạnh chiếc xe loang lổ những vết máu. Hỏi ra, chúng tôi được biết: Có một thanh niên da đen vì không có việc làm, không nhà cửa đã “nổi loạn” mang bom xăng tự chế lên xe buýt tự thiêu, làm chết 3 hành khách đi trên xe và khi cảnh sát tới can thiệp, y đã kịp rút súng bắn trọng thương hai cảnh sát và tự kết liễu đời mình bằng một viên đạn vào thái dương. Một tuần sau, ngày 21-5, trên tất cả hệ thống thông tin đại chúng của Mỹ cũng đưa tin: Một ngày ở ba bang của nước Mỹ (Texas, Washington và Oregon) đã có ba vụ bắn chết nhiều người. Thủ phạm của cả ba vụ đều là học sinh trung học còn tuổi vị thành niên. Trên tivi đã “tường thuật” tỉ mỉ cảnh “cậu” học sinh Kim Kel 15 tuổi mặt búng ra sữa nhưng to như một con bò mộng, khi bị cảnh sát thẩm vấn tại Sở Cảnh sát bang Oregon, y đã rút lê giấu trong ống quần đâm túi bụi vào hai cảnh sát. Khi khám nhà cậu học sinh quý tử, cảnh sát thấy toàn mìn, bom tự tạo. Hỏi, cậu học trò Kim Kel tỉnh queo chỉ vào hệ thống thiết bị điện tử sáng choang trong phòng, nói cộc lốc: “Học trên mạng Internet…”.

Chúng tôi hỏi ông bà cựu vô địch quần vợt nước Mỹ Harold về quan hệ cha mẹ – con cái, về quan niệm tình yêu, hạnh phúc, về cách làm tiền – tiêu tiền của lớp trẻ Mỹ… Ông Harold, 83 tuổi nói:“Họ sống khác thế hệ chúng tôi. Họ có tính độc lập, thực tế… nói đúng ra là họ sống thực dụng hơn chúng tôi. Tất cả mối quan hệ họ đều giải quyết bằng đồng tiền. Họ luôn nghĩ: Đồng tiền có thể giải quyết được tất cả”. Nghe ông nói tôi mới chợt nhớ ra rằng: Chính ông bà Harold có 9 người con đều đã trưởng thành, trong đó có 3 người con ở thành phố Des Moines. Người con cả của ông bà làm giám đốc một công ty thiết bị điện tử ở cách ông một phố, đi ôtô mất chừng mười phút. Vậy mà cả một thời gian dài ở nhà ông bà Harold, chúng tôi không thấy người con trai cả hay vợ con anh ta tới thăm bố mẹ. Hôm ông bà Harold đưa chúng tôi tới thăm nhiệm sở của người con trai cả, vừa nhìn thấy bố mẹ, anh con trai vội rút ví lấy ra một tờ ngân phiếu đưa cho ông Harold và nói:“Chắc bố mẹ cần cái này”. Rồi anh cũng chẳng cần mời bố mẹ lẫn chúng tôi ngồi chơi, anh giơ tay:“Bye…bye” (tạm biệt) và xin phép vào phòng làm việc. Ông bà Harold cũng không lấy thế làm buồn. Ông đút tấm ngân phiếu vào ví và cười, tặc lưỡi, nói với chúng tôi: “Lớp trẻ Mỹ – họ là thế đấy!”.

Trong những ngày ở thành phố Madison, chúng tôi có quen một thanh niên Mỹ tên là Kiplan Luck. Luck năm nay 23 tuổi, đẹp trai và rất thanh lịch. Luck làm ở một công ty xây dựng nhà ở với nghề nghiệp can vẽ đồ bản, lương tháng 2.500 USD. Thói quen của Luck và lớp trẻ như Luck là thế này: lương tháng đủ ăn, đủ tiêu. Còn dư chút đỉnh thì các tối thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật (là những ngày nghỉ) họ kéo nhau ra quán bar. Ở đó họ không bị ràng buộc bởi luật pháp của Nhà nước cũng như kỷ cương, khuôn phép giáo điều của gia đình. Họ uống tuỳ thích, hút tuỳ thích, chơi tuỳ thích và… ghẹo gái cũng tuỳ thích với đủ các cô gái da trắng, da đen, da đỏ, da vàng… Cô thì mặc hai mảnh, cô thì mặc một mảnh, có cô không mặc mảnh nào. Quái đản hơn có cô mặc đồ lót bằng cờ Mỹ hoặc bằng mảnh vải vẽ mặt Tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ… Luck bảo:“Lớp trẻ Mỹ chúng tao là không gia đình. Nam nữ chúng tao thích là đến với nhau, ở với nhau, không hôn thú, không cưới hỏi, chán thì… bye bye, nếu có con với nhau, đứa nào thích nuôi thì nuôi, không nuôi được thì đưa cho Nhà nước, cho xã hội nuôi. Vấn đề cốt lõi của tình yêu là tiền. Hết tiền là hết tình. Vậy thôi. Với người Mỹ, hạnh phúc gia đình chỉ có với người già khi họ đã thừa mứa cái tình yêu cập nhật hiện sinh thời trai trẻ”.

Luck đã có một chuyến đi du lịch Việt Nam và người Việt Nam rất có ấn tượng đối với Luck. Từ đó tới nay – dù là đang sống trên đất Mỹ nhưng Luck chỉ chơi với người Việt Nam. Luck bảo người Việt Nam sống nhân hậu, đầm ấm, tình cảm vả rất thoải mái, vô tư trong quan hệ, trong lối sống. Để kết luận về câu chuyện tình yêu, Luck nói:“Ở Mỹ, đã không còn khái niệm hạnh phúc, tình yêu, lòng thuỷ chung, sự trong trắng ở cả nam và nữ của lớp trẻ…”.

V

 Đến với nước Mỹ, một trong những ấn tượng mạnh mẽ nhất để lại trong lòng du khách nước ngoài là cách nhìn về văn hoá, cách nhìn về chiến tranh của bộ máy tuyên truyền khổng lồ lắm tiền nhiều bạc của người Mỹ đã tạo dựng lên ở các bảo tàng chiến tranh, các trung tâm vui chơi, triển lãm nghệ thuật mà ở bất cứ thành phố nào của nước Mỹ cũng đều có. Cái định hướng tuyên truyền kiểu Mỹ nó khác lạ, quái dị và đầy mâu thuẫn với một đất nước mà ở đâu cũng thanh bình, yên ả, đẹp như tranh vẽ. Và, nó cũng thật nghịch lý với lối sống đã trở thành tính cách rất riêng của người dân Mỹ: trật tự, kỷ cương, mang đậm dáng nét của lớp người có văn hoá.

Bạn đọc cứ hình dung ở một trung tâm nghệ thuật của một thành phố nông thôn như Des Moines khuất nẻo, gần giáp với Canada, nhưng nó đã được xây dựng quy mô hoành tráng với tổng số tiền gần mười tỷ USD. Trong bảo tàng trưng bày khá nhiều các công trình nghệ thuật của các danh họa nổi tiếng thế giới như Van Gogh, Picasso, Léger, Miró, Goya, Gauguin, Leonardo Da Vinci… Vậy mà tiếc thay, giữa những kiệt tác đã trở thành kinh điển cho các trường phái hội họa như vậy, lại được bày lẫn với những “tác phẩm” thể tự do được gắn cho một cụm từ nghệ thuật:“Trường phái hội họa trừu tượng”. Và, người Mỹ tự hào bởi nguồn gốc của trường phái này được khởi sinh từ Mỹ vào đầu những năm 50. Mới hay, mới đẹp làm sao cho lời giới thiệu “trường phái hội họa trừu tượng” đã được đúc chữ vàng treo trang trọng ở tiền sảnh của bảo tàng nghệ thuật Des Moines:“Đó là sự đa dạng về phong cách và nội dung của tác phẩm đã để lại dấu ấn trên nhiều khuynh hướng hiện đại. Ngày nay chúng ta có thể tự do gọi tên tác phẩm theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Hậu tố (ISMS) – chủ nghĩa hay trường phái – ít được sử dụng và cái hay là ở chỗ thật khó bình luận hoặc đánh giá tác phẩm. Cách đánh giá tốt nhất là theo sở thích của mỗi người”… Quả thật Mỹ và đúng là Mỹ khi chúng tôi được “chiêm ngưỡng” những “kiệt tác” nghệ thuật thể tự do của Mỹ: Một bức họa chỉ có một màu sơn trắng toát với hai chữ S (Hai chữ đầu của tên tác giả) ở góc dưới bức họa, với giá: 1 triệu 800 nghìn USD. Một bức tranh đen kịt (như bạn đọc đã thấy ở bài 1) giá 1 triệu 500 nghìn USD. Lạ nữa, khi chúng tôi vào phòng trưng bày các “tác phẩm” điêu khắc trừu tượng thể tự do. Cả một căn phòng lộng lẫy, mênh mông với một thiếu nữ Mỹ xinh đẹp ngồi ở cửa phòng, vắt mình trên một chiếc ghế cao, thả đôi chân dài, trắng như nõn chuối, đang đung đưa theo nhịp của bài hát mà cô đang khe khẽ hát. Ban đầu thì chúng tôi cứ tưởng đó chính là tác phẩm nghệ thuật “sống” kiểu Mỹ, nhưng không phải. Sự thật cô chỉ là người trông coi và giới thiệu “tác phẩm” giá 800 nghìn USD là ba chiếc máy hút bụi được xếp theo hình tam giác lệch nhau về độ cao, được dựng trong một chiếc tủ kính trong suốt đặt ở giữa phòng mà khi vào chúng tôi cứ nhầm tưởng rằng đó là phòng để máy hút bụi của bảo tàng nghệ thuật Des Moines. Khi đến với các “kiệt tác” này của “Chúa Trời tự do” thì trí nhớ của tôi lại chợt quay về với cảnh tượng kinh dị mà nền văn hiến nước nhà đã phải một lần lên tiếng tẩy uế cái “trường phái hội họa trừu tượng ba chiều” của một số họa sĩ “tắc tỵ” của Việt Nam ta đã trưng bày một “phòng tranh” nào xô màn bôi quẹt phẩm xanh, phẩm đỏ; nào củi gộc, mảnh sành chum lọ; nào xoong thủng, chảo thủng… mà họ treo lủng lẳng trước cửa thiền văn bia của 82 vị tiến sĩ ở Quốc Tử Giám – Trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam, dịp xuân Đinh Sửu 1997.

Đọc tới đây chắc có bạn đọc lăn tăn đặt câu hỏi: Thế thì tại sao tác giả của bài viết này không chụp được bức ảnh về “tác phẩm trừu tượng” của ba chiếc máy hút bụi và đăng cho bạn đọc của An ninh thế giới “tận mục sở thị”. Thưa rằng, đến với các trung tâm nghệ thuật, bảo tàng toàn cỡ “tiền tỉ” của Mỹ và của nhiều nước khác, thì việc đầu tiên đối với các khách tham quan là để máy ảnh, máy quay phim ở phòng lễ tân. Vì thế mà tác giả tiếc rằng không thể đưa thông tin bằng những hình ảnh kỳ thú kiểu Mỹ cho bạn đọc được. Tác giả xin được gửi tới bạn đọc bằng chữ viết thay cho lời tạ lỗi.

Đến với Viện bảo tàng thế giới nằm cạnh một kỳ quan của nước Mỹ: Hồ Mendota với một công trình thế kỷ đắp nổi hàng trăm kilômét đường xuyên hồ, người xem thật bàng hoàng bởi sự đầu tư công sức và tiền của cho một bảo tàng xứng đáng với cái tên gọi “Bảo tàng thế giới”. Riêng với các gian, các khu trưng bày lịch sử nước Mỹ và lịch sử thời tiền sử, người xem phải đi khoảng từ 6 tới 8 tiếng đồng hồ. Ở đây, người xem lại phải kinh hoàng bởi kỹ thuật làm giả cây cối to, cao bằng dãy nhà năm bảy tầng và, đặc biệt là những bộ xương khủng long, xương động vật thật thời tiền sử có từ hàng triệu triệu năm mà người Mỹ đã không tiếc tiền, tiếc công sức sưu tầm ở tất cả các nước trên thế giới để đưa về. Hỏi giá tiền mua các bộ xương động vật thời tiền sử này, một người thuyết minh của bảo tàng nói với chúng tôi:“Ước khoảng hàng tỉ USD một bộ”. Lại còn vài trăm gian trưng bày lịch sử phát triển của tất cả các nước trên thế giới với hàng vạn, hàng vạn di tích, hiện vật thật được sưu tầm từ chính các nước sở tại mang về thì mới biết cái khát khao muốn làm bá chủ thế giới của người Mỹ như thế nào(?). Nhưng hỡi ơi và méo mó thay, tại gian trưng bày có cái tên “Việt Nam”, chúng tôi chỉ thấy người Mỹ bày lỏng chỏng một chiếc dậm úp cá, một chiếc cày trâu, một chiếc riu xúc tép, một cái bình vôi, một chiếc cối giã trầu và vài ba chiếc niêu, lọ đồ gốm Bát Tràng cùng vài bộ áo quần một ống nhuộm chàm của các dân tộc miền núi nước ta. Thấy chúng tôi đứng đăm chiêu ở gian trưng bày hàng “Việt Nam” , một người của Viện bảo tàng xăng xái chạy tới, nói:“Xin lỗi, có phải các ông là người Việt Nam và các ông muốn chụp ảnh tại gian trưng bày nước mình phải không? Tôi chụp ảnh đẹp lắm đấy, để tôi chụp cho!”. Chúng tôi xua tay và nói với ông ta rằng:“Đất nước chúng tôi có trên 4000 năm lịch sử. Sự phát triển của đất nước chúng tôi không phải chỉ có vài thứ mà các ông đã cố ý trưng bày ở đây…”. Người của Viện bảo tàng chưng hửng vì biết chúng tôi không hài lòng. Ông ta xin lỗi và lủi đi. Còn chúng tôi cũng không còn hứng thú gì để xem hết các thứ sưu tầm thập cẩm của cái “anh” trọc phú lắm tiền Mỹ đã gồng mình, phồng mang trợn mắt để cố tạo dựng nên một nước Mỹ có lịch sử, có văn hoá mà mãi không thành này.

Thưa bạn đọc, tác giả của bài viết này muốn đưa bạn đọc đến với Viện bảo tàng chiến tranh của Mỹ đặt tại Madison mà người Mỹ rất tự hào. Theo như lời giới thiệu cũng được đúc chữ vàng và in trang trọng ở các catalogue quảng cáo tặng du khách khi vào thăm bảo tàng, rằng:“Đây là biểu tượng, là niềm tự hào của những người lính Mỹ và của Tổ quốc Mỹ chỉ có biết chiến thắng trong tất cả các cuộc chiến tranh vì sự phát triển của nhân loại…”. Thế đấy, tư tưởng “vì nhân loại” hay là để thống trị nhân loại, bạn đọc hãy cùng chúng tôi xem. Trước hết là biểu tượng người lính Mỹ được đặt ngay tiền sảnh của Viện bảo tàng: Một cái mặt của một thanh niên Mỹ đội mũ lính được cách điệu ở chiếc mũi hếch dài như thanh kiếm cong chọc ngược lên trời. Bức tượng bán thân của người lính Mỹ được đắp phần thân toàn là những chiếc đầu lâu người. Tôi hỏi một người của Viện bảo tàng về ý nghĩa của bức tượng. Người của Viện bảo tàng nói:“Biểu tượng người lính Mỹ cũng là biểu tượng của nước Mỹ chúng tôi. Chúng tôi luôn muốn vươn lên trời cao. Và, muốn vậy thì người Mỹ phải đạp lên xác của đồng loại để mà vươn lên. Lịch sử đi lên của nước Mỹ đã chứng minh như vậy”. Chúng tôi lạnh toát người và cố gắng xem hết các gian trưng bày các cuộc chiến tranh để tìm lời đáp cho câu hỏi: Người Mỹ nhìn nhận các cuộc chiến tranh mà con em họ đã tham chiến như thế nào?

Trong Bảo tàng chiến tranh, người Mỹ đã dành một vị trí xứng đáng cho việc trưng bày cuộc nội chiến Bắc – Nam của nước Mỹ kéo dài tròn 4 năm, từ tháng 4-1861 đến tháng 4-1865. Người Mỹ lý giải:“Cuộc chiến tranh Bắc-Nam được châm ngòi từ cuốn sách “Túp lều bác Tôm” xuất bản năm 1852 với nội dung chống lại chế độ nô lệ. Kết cục thắng lợi của cuộc chiến tranh này thuộc về miền Bắc nước Mỹ với việc thống nhất liên bang, giải phóng nô lệ, đã đưa nước Mỹ phát triển và trở thành nước Mỹ siêu cường như hiện nay”. Đọc những dòng này, hẳn những ai am hiểu lịch sử nước Mỹ cũng phải bụm miệng cười bởi cái nguyên nhân sâu xa của cuộc nội chiến Bắc – Nam của nước Mỹ đâu phải bắt nguồn từ những trang sách của tác phẩm “Túp lều bác Tôm”, mà cái căn bản cốt lõi nhất chính là cuộc chạy đua giữa hai lãnh tụ đảng Cộng hoà (Abraham Lincoln) và lãnh tụ đảng Dân chủ (Stephen A.Douglass) vào Thượng nghị viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1858. Cả hai Đảng có thế lực lớn nhất nước Mỹ này đều giương chiêu bài duy trì hay giải tán chế độ nô lệ làm con bài chính trị để đạt được đỉnh cao quyền lực cho mình. Cuối cùng là cuộc chiến đẫm máu nồi da nấu thịt này đã giết đi hàng triệu dân lành của nước Mỹ. Cuộc nội chiến Bắc – Nam đã đi qua hơn một thập kỷ, vậy mà bộ máy tuyên truyền của nước Mỹ vẫn không dám nhìn thẳng vào sự thật hay nói đúng hơn là vẫn không cho nhân dân Mỹ hiểu đúng bản chất của sự thật. Vậy thì một sự thật dễ hiểu là ở cách trình bày, cách lý giải các cuộc chiến mà người Mỹ đã không dưới 20 lần đưa quân tới các nước khác, thì người Mỹ đều cố biện minh cho hành động xâm lược của mình bằng việc đánh bóng mạ kền những cụm từ rất kêu về quyền con người; nào vì hoạ xâm lược của các cường quốc khác đe dọa những người bạn đồng minh của nước Mỹ; nào viện trợ, giúp đỡ nhân đạo những nước nhược tiểu… vân vân và vân vân. Cũng vì hiểu cái “lưỡi” và cái “vòi” của con “bạch tuộc” mà chúng tôi không lấy làm ngạc nhiên khi tới gian trưng bày cuộc chiến tranh ở Việt Nam , người Mỹ đã trích lời của Tổng thống John Kennedy ngày 20-1-1961 biện minh cho cuộc thập tự chinh quân sự can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam như sau:“Chúng ta, mặc cho những người không cùng chính kiến bảo chúng ta là tốt hay xấu. Điều cốt yếu là chúng ta phải bằng mọi cách, kể cả khó khăn gian khổ và sự chịu đựng thiệt thòi để giúp đỡ bạn bè của chúng ta chống lại kẻ thù vì sự công bằng bác ái và sự tự do của con người”. Còn lý giải về việc cuốn cờ bại trận cùng với việc tháo chạy hàng chục nghìn quân nhân của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ở chiến trường Việt Nam tháng 4-1975 thì người Mỹ biện minh bằng những dòng chữ thế này:“Cuộc chiến ở Việt Nam mà người Mỹ tham gia từ năm 1959 tới năm 1975 là một cuộc chiến tranh quá kéo dài ở một chiến trường không có chiến tuyến, không có ranh giới giữa địch và ta mà chỉ có rừng rậm, bùn lầy và những người dân bản xứ khi thì là địch, khi thì là ta… Quá mệt mỏi vì không biết trận tuyến ở đâu, kẻ thù ở đâu, nên người Mỹ quyết định rút quân về nước”. Đọc những dòng này, chắc bạn đọc khỏi cần tác giả có lời bình thêm bởi vì cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam thì ai cũng biết nó được bắt đầu bằng việc nước Mỹ viện trợ kỹ thuật và kinh tế cho thực dân Pháp từ năm 1954 và bằng việc Mỹ đón rước, dạy dỗ một lũ tay sai người Việt như Ngô Đình Diệm từ năm 1945 để đến năm 1954 Mỹ đưa về lập một Chính phủ thuộc hạ với câu nói “nổi tiếng” xanh rờn có thể khắc “bia đá muôn đời” nói lên cái thân phận hèn mọn của kẻ bán nước cầu vinh:“Biên giới của nước Mỹ kéo dài tới vĩ tuyến 17”…

Cuối cùng thì dù cho người hùng Mỹ có liệt kê tất cả những nỗi vất vả, sự “hy sinh” ti tỉ đồng đôla và hàng triệu tính mạng con em Mỹ trong tất cả các cuộc chiến tranh, bằng những hiện vật, những con số kinh hoàng vì một “lý tưởng tự do” hay “nhân quyền, nhân bản” gì gì đi chăng nữa thì duy nhất trong Bảo tàng chiến tranh này, người Mỹ đã phải trưng hai bức ảnh nói lên sự thất bại cay đắng của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đó là bức ảnh chụp chiếc xe tăng cắm cờ Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam húc đổ cổng sắt Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 và bức ảnh có 2 đứa trẻ Mỹ bám tay một ông già người Mỹ hỏi về số phận cha chúng – một người lính Mỹ, hiện nay ở đâu sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam(?) …

VI

 Trước khi đi Mỹ, tôi có dịp đi hai nước Châu Âu: Pháp và Đức. Với hai nước này, vì nhiều lẽ, tôi không có điều kiện tìm hiểu về người Pháp và người Đức. Thành thử đành nhoáng nhoàng kiểu chuồn chuồn đạp nước tìm hiểu đôi nét về cộng đồng người Việt ở nước ngoài; mà cụ thể là ở hai nước Châu Âu phát triển này.

Ở Đức, tôi gặp một người Việt tên là Lê Văn Hoan. Anh khoảng trên dưới 40 tuổi, quê Nghệ An, đã sinh sống ở Đức 15 năm nay. Anh đã nhập cư ở Đức và đưa cả gia đình: bố mẹ, vợ con, anh em sang lập nghiệp ở thành phố Dresden. Bằng cách sống tần tảo, khôn ngoan của người Việt ở xứ người, anh đã tạo dựng được vị trí của mình ở Đức bằng việc mở các nhà hàng ăn uống Á Châu và bằng các mối bang giao rộng rãi với nhiều quan chức của Đức. Hiện tại, anh là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Asico Germany có các chi nhánh ở Hamburg, Frankfurt (Đức), Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungari, tháng nào anh cũng về Việt Nam để đầu tư và thiết lập các mối quan hệ làm ăn trên các lĩnh vực xây dựng, thiết bị in ấn, điện tử… Không biết được anh đã trở thành tư bản ở Đức hay chưa nhưng đi với anh trên đường phố Dresden, dù là gặp người Việt hay người Đức, kể cả một số quan chức lớn của thành phố sở tại, thì mọi người đều chào anh bằng một thái độ trân trọng, vị nể. Hỏi về việc làm ăn sinh sống của cộng đồng người Việt ở Đức, anh chỉ những người Việt Nam đang giúp việc cho anh và nói:“Anh em mình đấy. Vài năm trước khi chưa sáp nhập giữa Đông và Tây thì người Việt ở Đức còn kiếm chác được. Nay khó khăn nhiều. Những người Việt còn tồn tại được ở Đức, tháng dành dụm được một, hai trăm USD là cả một vấn đề. Nếu làm nghề bán rau quả, thuốc lá thì một ngày phải đứng trong giá tuyết từ 10 tới 12 giờ. Còn nếu làm thuê ở các nhà máy, công sở của Đức thì phải làm thêm giờ, làm cả ngày lễ, ngày tết. Rất nhiều người Việt sang Đức cả chục năm nay, làm ăn không được, không có tiền mang về nước, “sĩ” không dám về và đành… lì ở Đức. Còn vấn đề “chính trị”, cộng đồng người Việt ở Đức không phức tạp lắm. Đa phần mọi người chỉ lo làm ăn, nghĩ cách kiếm tiền và đều có tư tưởng hướng nội. Để chứng minh điều đó, anh Hoan lái xe đưa chúng tôi đi khắp các trung tâm buôn bán và sinh sống của người Việt Nam tại thành phố Dresden và cả Đông và Tây Berlin. Người Việt ở 2 thành phố này nhiều, chủ yếu sống bằng nghề buôn bán, chạy chợ. Thấy chúng tôi từ nước nhà sang, họ rất mừng và họ chỉ các sạp bán sách báo và nói rằng họ nhìn về đất nước, nhớ về đất nước qua sách báo từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đưa sang.

Còn ở thủ đô Paris của Pháp, người Việt đầu tiên mà chúng tôi gặp là người “sốpphơ” taxi tên là Hoàng Nguyễn. Anh khoảng trên 50 tuổi và ở Pháp từ năm 18 tuổi. Hơn 30 năm chưa một lần về nước vì điều kiện kinh tế eo hẹp. Nhưng anh hiểu đất nước như chính người Việt có trình độ đang sống ở nước Việt vậy. Gặp anh, chúng tôi rất vui vì cái gốc Việt ở anh vẫn đậm nét và như là một điểm sáng ở giữa một thủ đô phương Tây là Paris hoa lệ này. Anh kể những lần đụng độ nảy lửa giữa anh và cánh “sốpphơ” taxi người Pháp chính hiệu về cách nhìn văn hoá Pháp, văn hoá Việt Nam và cách đánh giá cuộc viễn chinh của Pháp ở Việt Nam là khai hoá văn minh cho Việt Nam hay là một âm mưu thôn tính, bóc lột người Việt Nam? Anh bảo anh khinh một số kẻ khoác áo văn nghệ sĩ ở trong nước chạy sang Pháp mặc dù “Tây” không mướn, không thuê nhưng vẫn lụi hụi viết sách, viết báo để bôi nhọ nước nhà. Rồi anh dẫn chúng tôi tới quận 13 – nơi có gian hàng Việt Nam, sách báo Việt Nam. Tại đây, hàng hoá, thực phẩm, rau quả của Việt Nam hầu như không thiếu một thứ gì, từ gạo tám thơm, khoai lang, khoai sọ, tương, cà, rau dền, rau muống cho tới điếu cày, điếu bát, thuốc lào Vĩnh Bảo và cả thuốc rê Nam Bộ… Và, một điều thật lạ lẫm ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi là được thấy một “nhà” sách báo rất lớn nằm giữa thủ đô Paris sầm uất và đài các như thế nhưng lại chỉ có bày bán các loại ấn phẩm văn hoá, sách báo xuất bản ở trong nước, tịnh không có một ấn phẩm nào của người Việt ở hải ngoại. Tại đây, bạn có thể mua bất cứ cuốn tiểu thuyết, tập truyện ngắn, băng ca nhạc nào đã xuất bản ở trong nước nếu là các tác phẩm được bạn đọc thừa nhận là tốt có tiếng vang. Còn báo, thôi thì đủ cả: Lao động, Tiền phong, Đại đoàn kết, Tuổi trẻ, Thanh niên, Văn nghệ, Phụ nữ và các loại báo Công an… Người chủ của nhà hàng sách báo trong nước là một phụ nữ trẻ, phúc hậu. Chị tên là H.  một Việt kiều sinh sống ở Thái Lan qua Pháp được gần mười năm nay. Tôi hỏi vì sao chị chỉ bán sách báo cách mạng? Chị bảo:“Bán loại sách báo nào là quyền của tôi. Nhưng tôi là một phụ nữ Á Đông, tôi muốn cuộc sống có văn hoá, vì thế mà tôi thích những ấn phẩm sách báo nào lịch lãm và có văn hoá. Tôi ít có dịp về nước nhưng tôi thấy sách báo trong nước sạch sẽ, có văn, không kích động hằn thù, không kích động bạo lực và nhất là không dâm tục”. Nói rồi chị cúi xuống lục ở đáy một thùng rác lấy đưa cho tôi tờ Tạp chí Văn nghệ Tiền phong số 536 của nhóm bồi bút hải ngoại Hồ Anh – Thủy Tiên – Ngọc Đỉnh xuất bản tại thành phố Arlington – USA, gửi “tặng” nhà sách của chị. Chị chỉ cho tôi trang 1 của tạp chí in bài viết nguyên nhân về bệnh bất lực của đàn ông và cách chữa trị kèm theo trang sau là lời bình giới thiệu loạt băng video “Châu Á tình dục” với những lời lẽ thô tục sai cả văn phạm tiếng Việt đến mức ngô nghê, nực cười mà tác giả không đủ can đảm viết ra đây sợ làm bẩn mắt bạn đọc. Vậy chỉ xin trích một đoạn thơ được đóng khung, in chữ đậm của tạp chí Văn nghệ Tiền phong như sau:

Hàng rong trong báo Tiền phong

Trăm nghìn người đọc mới mong bán nhiều

Quà gì sinh nhật hở cưng?

Tặng em Văn nghệ Tiền phong đủ rồi.

Bờm rằng bờm chẳng lấy hồng

Đưa tờ Văn nghệ Tiền phong.

Bờm cười…

Có lẽ không có lời bình nào hơn câu nói của chi H. về những “tác phẩm” văn học, báo chí dạng này của một số cây bút hải ngoại, rằng:“Họ là lớp người có trình độ văn hoá ngắn, nếu tôi truyền bá sách báo của họ thì chẳng hoá ra tôi là người không có văn hoá à?”. Tôi lại hỏi chị:“Chị tẩy chay sách báo dạng này, chị không sợ một số người quá khích trả thù chị sao?”. Chị cười:“Ở đâu thì cũng có người tốt người xấu. Nếu bọn xấu định hãm hại tôi thì đã có những bà con người Việt tốt bảo vệ tôi, tôi đâu có sợ”.

Thưa bạn đọc, điều chị người Việt bán sách báo ở quận 13, thủ đô Paris nói về cộng đồng người Việt ở Pháp thì cũng là điều tôi cảm nhận được trong những ngày tôi ở trên đất Mỹ khi tiếp xúc với một số Việt kiều. Tại Madison – thông qua sự môi giới của anh chàng Luck, một thanh niên Mỹ chỉ “nghiền” chơi với người Việt Nam , tôi đã thâm nhập được vào gia đình một Việt kiều là ông Lê Văn Hoạt ở phố Independence. Vợ chồng ông Hoạt cùng ba người con đi sang Mỹ theo diện HO từ năm 1990 và đều có công ăn việc làm. Gia đình ông đã mua được một căn nhà 30.000 USD bằng tiền vay trả góp trong vòng 30 năm. Ông và cậu con cả Lê Văn Huy , 22 tuổi đều có xe riêng, mặc dù là xe cũ mua lại giá 2-3 ngàn USD và là loại xe không được chạy ra khỏi thành phố. Vợ ông Hoạt nói với chúng tôi:“Gia đình chị ai cũng phải lao động cật lực và các cháu đều ngoan, không đua đòi ăn chơi và đều vừa học vừa làm thêm giờ, tích cóp tiền đưa cho mẹ trả dần các khoản tiền vay. Với đà này chắc cũng phải mười năm nữa chị mới trả xong tiền mua nhà, chứ trả góp kiểu Mỹ trong vòng 30 năm thì tổng giá trị lên gấp 3 lần giá trị mua ban đầu”. Chị kể cho chúng tôi nghe sự tằn tiện của người Việt ở Mỹ là phải tính toán thật chi ly, từ việc phải nghĩ cách trồng các loại rau, hạn chế đi lại, đến dùng điện thoại, thư tín… và đặc biệt là việc về thăm cố hương nếu gia đình chị mỗi năm có một người về nước một lần coi như cả nhà phải lao động cật lực một năm mới hoàn “vốn”.

Ở Des Moines, thật tình cờ chúng tôi có cuộc “uống bia nói chuyện” thẳng thắn, cởi mở với một nhóm thanh niên người Việt – thế hệ sinh trước và sau năm 1975, hiện đang sinh sống tại Mỹ. Ban đầu thì các bạn trẻ này rất dè dặt với chúng tôi – những người mà dưới con mắt của họ là “Cộng sản trăm phần trăm”. Sau cốc bia mừng cuộc hội ngộ trên đất Mỹ giữa những người Việt với nhau, một anh bạn trẻ được giới thiệu tên là Nguyễn Anh Tuấn chừng 25-26 tuổi làm kĩ thuật ở Công ty Mic Roanswas, hiện đang cư trú tại số nhà 5715 Hickman Suite B – Des Moines. Tuấn thẩm vấn chúng tôi đủ các câu hỏi tại sao, tại sao ở Việt Nam lại thế này hay thế khác với giọng điệu quá khích. Chúng tôi hỏi cậu ta:“Thế anh bạn trẻ đã về Việt Nam trong những năm gần đây chưa và cậu hiểu về Nhà nước và con người Việt Nam hiện nay ở quê hương thế nào?”. Cậu ta ú ớ và đưa ra một mớ thông tin, nhận định, đánh giá lạ hoắc mà là một người làm báo có thâm niên bằng tuổi cậu ta, tôi chưa được thấy, được nghe bao giờ . Tỉ dụ như chuyện chính quyền Việt Nam muốn bắt ai là bắt; nhà văn A, nhà văn B viết sách báo theo khuynh hướng dân chủ là vô khám ngay. Lại còn chuyện cấm các “nhà văn cấp tiến” đi nước ngoài… vân vân và vân vân. Vì là những điều chất vấn cụ thể nên chúng tôi cũng đành phải giải thích, chứng minh cụ thể từng vấn đề rằng đó là những điều bịa đặt có dụng ý xấu bôi nhọ Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Rằng kể cả một số nhà văn quá khích, không thiện chí với đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhưng khi có yêu cầu đi Mỹ hoặc các nước phương Tây, Nhà nước Việt Nam vẫn cho đi như nhà văn A, nhà văn B… và họ đâu có dám ở lại với Mỹ, với “Tây”, bởi họ thừa thông minh nhận được bài học nhỡn tiền của Bùi Tín, Vũ Thư Hiên… hiện đang sống vật vờ, lang thang ở Paris bằng 2.000 frăng (tương đương 400 USD) tiền trợ cấp nửa sống nửa chết của Chính phủ Pháp. Tôi hỏi cậu ta có biết tin Bùi Tín dịp cuối năm 1997 đã bị đứa cháu ruột đuổi ra khỏi nhà khi vừa đi bệnh viện mổ ruột về chưa? Và việc Bùi Tín muốn sang Mỹ mà không được Chính phủ Mỹ cho nhập cảnh chưa?… Những người bạn Việt kiều trẻ tuổi này ú ớ và chuyển đề tài sang cái sự “tự do”, sung sướng ngay trên đất Mỹ, thì chúng tôi lại đưa tờ báo của Mỹ nói về tội phạm ở Mỹ như sau:“Một ngày tại Mỹ có 16 trẻ em bị chết vì súng đạn trong các vụ tự tử, bắn nhau, tranh chấp tài sản giữa người trong gia đình, và cứ 2 giờ lại có một em bé Mỹ bị bắn chết. Từ năm 1992 tới nay tại Washington, số người chết vì súng đạn, số người chết trong các tai nạn giao thông ngày một gia tăng. Ở Mỹ hiện có 2 triệu tù nhân và là nước có nhiều nhà tù nhất thế giới…”.

Thực ra, từ cuộc đàm đạo này, chúng tôi không trách người bạn trẻ Nguyễn Anh Tuấn và một số Việt kiều khác trước những lượng thông tin không đúng với tình hình thực tế của Việt Nam. Có chăng là do điều kiện, do hoàn cảnh ở xứ người, các bạn ít có thông tin đúng đắn nhiều chiều mà chỉ nhận được những tin tức méo mó qua bộ máy tuyên truyền của người Mỹ và qua một số tờ báo tiếng Việt của một số phần tử hận thù, cay cú và bất mãn với cách mạng đang sống lưu vong ở Mỹ và các nước phương Tây. Tuy vậy, đa số bà con Việt kiều và đặc biệt là tầng lớp thanh niên người Việt ở Mỹ đều rất tốt. Họ sang Mỹ chủ yếu là vì cuộc sống. Họ tần tảo, chịu thương chịu khó lao động, học hỏi và cố hết sức để có được cuộc sống yên ổn trên đất Mỹ và dành dụm được chút đỉnh để gửi về nước giúp đỡ gia đình người thân hoặc gửi về thăm quê cha đất tổ. Trong nhóm các bạn trẻ người Việt mà chúng tôi gặp ở Des Moines có ba, bốn em tối nào cũng tới thăm và đưa xe đón chúng tôi đi thực tế nước Mỹ. Trong nhóm đó phải kể đến Tống Ánh. Em năm nay 22 tuổi, sinh tại thành phố Hồ Chí Minh, sang Mỹ từ năm 14 tuổi, hiện ở phố Harorision – Des Moines. Em nói và viết tiếng Anh thạo như tiếng Việt. Em đi làm cho một công ty lắp ráp điện tử của Mỹ bằng ôtô mua ở bãi rác giá 1.000 USD và có mức thu nhập tháng từ 1.000 đến 1.200 USD ấy là cả tiền làm thêm giờ hàng ngày và cả ngày lễ ngày nghỉ. Em nói em đi làm được 3 năm nay và chỉ dành dụm được khoảng hơn 3.000 USD để tháng tới về thành phố Hồ Chí Minh thăm bạn bè và về Huế thăm họ hàng bên nội. Gần một tuần lễ Ánh và 3 người bạn của em đưa chúng tôi đi, chỉ duy nhất có một lần chúng tôi mời được các em tới ăn cơm Việt Nam và uống vài chai bia ở nhà hàng Á Đông. Còn những lần sau, bao giờ các em cũng bảo đã ăn cơm trước ở nhà rồi. Chúng tôi biết là các em ngại vì mang tiếng là sống trên đất Mỹ giàu có và sung sướng, vậy mà lẽ nào lại để người từ “nội địa” sang đãi. Nhưng nếu các em “bao” chúng tôi thì quả là rất khó khăn vì túi tiền ở Mỹ của các em eo hẹp quá. Tống Ánh gượng cười phân bua với chúng tôi:“Khổ nhất cho người Việt ở Mỹ là hằng tháng cứ phải tích cóp từng thùng hàng, từng trăm USD gửi về cho người thân ở trong nước bởi người trong nước luôn luôn quan niệm rằng Việt kiều ở Mỹ là giàu có lắm. Nhưng anh sang anh thấy đấy, cuộc sống người Việt ở Mỹ buộc phải tính toán, tằn tiện từng xu”…

Một tháng sau, tôi gặp lại Tống Ánh tại thành phố Hồ Chí Minh. Có được chuyến về cố hương lần đầu tiên này, em đã phải lao động cật lực trong ba năm trời trên đất Mỹ. Tôi có mời Tống Ánh đi ăn đặc sản “rùa – rắn” ở đường Hai Bà Trưng, em vui lắm. Ăn xong em cứ xuýt xoa khen:“Từ ngày sang đất Mỹ em chưa được ăn bữa nào ngon như thế này”… Và, trước khi chia tay để Tống Ánh trở lại nước Mỹ, em cứ nắm chặt tay tôi, nói:“Trước sau gì em cũng quay trở về sinh sống ở Việt Nam thôi. Không ở đâu bằng đất nước mình, quê hương mình anh ạ!”…

Trên một chặng đường nước Mỹ, thấy gì viết nấy, tác giả xin được chép ra đây để kính tặng bạn đọc.

 

Los Angeles – Hà Nội, tháng 5-1998

 

Hữu Ước
“Cả cuộc đời tôi chỉ làm báo và viết văn. Tôi không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo CAND - ANTG và VNCA cho tốt. Đấy là với tư cách một Tổng biên tập. Còn với tư cách con người thì tôi muốn cuộc sống có ý nghĩa và bình an.”