Lời điếu

Vậy là anh tôi đã mất. Cái tin sét đánh ấy tôi nhận được đúng lúc trận đấu bóng giữa đội “Câu lạc bộ nghìn cây” và đội “Các nhà báo” chúng tôi đang hồi quyết liệt. Trước trận đấu đã có một vài tay trong làng cá cược khích bác chúng tôi rằng: “Họ đã là câu lạc bộ nghìn cây thì các “cụ” biết rồi đấy. Nén bạc đâm toạc tờ giấy. Còn các “cụ” thì có gì? Trên răng dưới Pôn Pốt. À các “cụ” có cái lưỡi. Mà lưỡi thì mềm, quẹo phải, quẹo trái, thụt ra, thụt vào đều được cả. Với lại, lưỡi thì ai chẳng có”. Tôi đốp ngay: “Nhưng lưỡi các “cụ” quen ăn mắm ăn muối, đừng có xem thường các “cụ” nhà báo nhé. Nghìn cây chứ đến vạn cây, các “cụ” khai lên mặt báo tiêu cực của chúng nó thì cũng hơi bị mệt đấy”. Tụi cá cược hinh hích cười. Chúng rót cho chúng tôi những ly rượu đầy tràn. Các “cụ” đang tức, uống rượu như ăn chè. Rượu vào thì các “cụ” bốc lắm. Các “cụ” vẽ đội hình hai đội và vạch đấu pháp trận đấu. Tụi cá cược thấy các “cụ” tính đi tính lại từng vị trí và vỗ đùi đánh đét khi thấy đội hình và thế trận các “cụ” ăn đứt cánh “Câu lạc bộ nghìn cây”, khi ấy chúng mới hô hố cười. Các “cụ” chửi: “À, bọn này láo, dám xem thường các “cụ” hử! Chúng bay có biết các “cụ” đang ngồi đây là người như thế nào không?”. Vâng, kính các “cụ” ạ! Nếu chỉ nhìn về mặt bóng đá đơn thuần là bóng đá với 11 cầu thủ thì các “cụ” ăn đứt chứ lỵ. Nhưng sao các “cụ” không tính đến cầu thủ thứ 12 là trọng tài. Mà trọng tài thì ai nặng đô, nặng đếm? Các “cụ” hử? Chúng lại rinh rích cười. Chúng cười đểu, mẹ cha chúng mày. Chúng ông cay mũi lắm rồi đấy. Cánh nhà báo chúng tôi ai cũng nghĩ thế nhưng không ai chửi ra mồm. Nín thinh. Vì chúng nói đúng quá. Tụi cá cược được thể, vừa nâng rượu kính rước các “cụ” vừa cà rịch cà tang nói: “Các “cụ” tính, nó tung ra cho trọng tài 5 vé, trọng tài có thể chần chừ. Nó nâng lên 10 vé, trọng tài có thể còn suy nghĩ, đắn đo. Rồi nó nâng lên tiếp 20, 25 vé thì trọng tài có là đá cũng phải gật. Cả đời làm trọng tài, tích góp làm sao nổi 15, 20 vé. Vậy mà chỉ có 90 phút, lật phải, lật trái trong lòng bàn tay, dễ ợt. Thời buổi này, phải trái nó khó lắm, các “cụ” ạ! “Thì ra từ xưa tới nay chúng tôi chỉ quen nghĩ chúng tôi chỉ dạy cuộc đời, chứ cuộc đời làm sao dạy được chúng tôi. Vì thế mà cái lý của chúng xem chừng có vẻ đúng nhưng các “cụ” không chịu. Các “cụ” cậy các “cụ” là những cây đa cây đề trong làng làm báo nên các “cụ” té tát chửi lũ văn hoá lùn. “Mẹ cha chúng mày”. Chúng lại nhìn nhau rinh rích cười. “Để rồi xem”.
Trận đấu đã hết hiệp một. Đội “Các nhà báo” chúng tôi thắng một không. Vào trận, càng nghĩ tới lời tiên đoán của lũ cá cược, chúng tôi càng cay cú, càng đá bốc, càng hay.
Sang hiệp hai được 5 phút, một tiền đạo cánh của đội “Câu lạc bộ nghìn cây” dẫn bóng vào khu vực 16m50, một hậu vệ của chúng tôi lao ra cản. Anh xoạc chân rất khéo và đúng luật. Tiền đạo đối phương lăn ra ngã. Toét! Đi liền với tiếng còi của trọng tài là bàn tay chỉ vào chấm phạt đền. Thế này thì láo quá. Đội “Các nhà báo” chúng tôi lao tới vây trọng tài. Cả cầu trường náo động. Mặc, ông ta vẫn dứt khoát gạt chúng tôi ra và chạy nhặt trái bóng đặt vào điểm phạt đền. Chúng tôi phản đối bằng cách bỏ ngỏ lưới. Trọng tài vẫn kiên quyết cho đội “Câu lạc bộ nghìn cây” đá vào lưới không thủ môn. Một đều. Lão Hiền “râu” – cánh nhà báo chúng tôi vẫn gọi thế – sấn sổ chửi thẳng vào mặt trọng tài: “Mẹ mày, giữa thanh thiên bạch nhật thế này, giữa hàng vạn con người như thế này mà mày bẻ phải thành trái được. Mày tài thật”. Lão trọng tài cũng không phải loại vừa, hắn rút thẻ đỏ đuổi thẳng Hiền “râu” ra khỏi sân. Trận đấu phải dừng lại ít phút. Chúng tôi hội ý. Chúng tôi chấp nhận đấu tiếp, bây giờ thì cả đội trông chờ vào chân sút của tôi. Đã có một vài cơ hội tôi nhận được bóng dẫn xuống khu vực 16m50 và chuẩn bị co chân sút thì trọng tài lại thổi còi việt vị, bất kể phải trái. Thế này là thế nào? Trắng trợn quá và vô liêm sỉ quá. Sự uất ức không chỉ còn lại ở các cầu thủ và ở cổ động viên của đội “Các nhà báo” chúng tôi. Cả cầu trường la ó ầm ĩ như pháo nổ đêm giao thừa. Đúng lúc ấy trên loa phóng thanh, tiếng người thuyết minh trận đấu thông báo bằng một giọng khô lạnh: “Mời anh Tố, tiền đạo số 10 của đội “Các nhà báo” về ngay, anh trai bị mất”. Tôi đứng lặng giữa sân. Cái gì đến sẽ phải đến. Việc anh tôi sẽ chết đã được thông báo trước ba năm nay. Anh tôi bị ung thư phổi. Trước khi tôi lên Hà Nội để tham dự trận đấu bóng này, bụng anh tôi đã cứng như một cục đá, hơi thở khò khè, khó nhọc. Biết mình sẽ chết ngày một ngày hai, anh tôi dặn: “Tố nhé, chắc rằng anh sẽ không còn được gặp em. Mà em cũng không cần phải ở lại để trông thấy anh chết làm gì. Đau lòng lắm em ạ. Việc quan trọng của em ở Hà Nội là khi được tin anh chết, em phải báo ngay cho tất cả những người thân quen anh. Đặc biệt là cơ quan, em phải báo ngay cho bác Dũng, Vụ trưởng Vụ Cán bộ, thằng Khởi, thằng Hảo, bạn cùng lứa với anh, bây giờ chúng nó làm vụ trưởng cả rồi”. Nói rồi anh tôi nhăn mặt lại, thở dài, đau đớn. Mãi, anh tôi mới nói tiếp được: “Bảo họ lo cho anh cái lời điếu. Và em nhớ, xem lời điếu cho kỹ. Em là nhà báo, em gà cho họ viết, cho hết nhẽ lý lịch, thành tích của anh. Và nhớ lời điếu phải đóng dấu son. Sau đó, nhớ đốt cho anh để các quan quyền dưới âm biết. Anh ân hận là chưa đạt được cái mộng làm quan ở trên trần thì xuống dưới âm phủ anh sẽ làm quan. Anh cố gắng làm quan to để phù hộ bố mẹ, vợ con và em”. Nói rồi anh đưa đôi bàn tay phù nề ôm chặt lấy mặt. Những giọt nước mắt cuối cùng của cuộc đời dường như đã lặn hết ở bên trong, không còn chảy ra được nữa. Vì thế mà tôi thấy mặt anh nhăn nhúm lại, vành môi cắn chặt, đau khổ. Rồi anh tôi rũ xuống nằm lịm như một pho tượng. Nhìn anh tôi, tôi biết là anh tôi đang đau đớn và tiếc đời lắm. Và thế là cả một quá khứ, một quãng đời của anh tôi lại hiến về với tất cả lối sống, ước vọng, ham muốn của một đời người với bao nhiêu trăn trở, thăng trầm theo năm tháng…
Anh và tôi sinh ra trong một gia đình quan trường. Từ đời kỵ, cụ và ông tôi là cả ba đời làm chánh tổng cai quản ba xã Phúc Xá, Ngũ Xá và Tam Xá. Cho tới khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì ông tôi nghe lời khuyên của bố tôi tham gia Việt Minh. Ông tôi có công làm nội ứng đánh bốt La Tiên diệt được tên quan ba Pháp Lacle và một tiểu đội lính lê dương, một trung đội lính khố đỏ, giải tán toàn bộ hệ thống tề xã phản động ở địa phương. Và chính ở tổng Kim Phương do kỵ, cụ, ông tôi truyền ngôi cho nhau ba đời ở thời đế quốc, phong kiến lại được bố tôi tiếp quản với một chức vị mới của chính quyền cách mạng: Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã. Cũng vì thế nên trong cải cách ruộng đất, gia đình tôi thuộc loại vương giả nhất khu vực phía nam huyện Nam Tiến mà không bị tịch thu, đấu tố và được đưa vào diện địa chủ kháng chiến. Ngôi nhà của gia đình tôi to nhất xã, lừng lững, nổi như mui rùa giữa làng, trở thành trụ sở của đội cải cách. Khi ấy tôi chưa sinh. Sau này nghe anh tôi kể lại: Cái sân rộng đến hàng trăm mét vuông mà từ đời kỵ, cụ, ông tôi vẫn thường dùng làm nơi thu tô, thu thuế thời đế quốc, phong kiến, khi cải cách mộng đất lại được dùng làm nơi đấu tố bọn địa chủ, phong kiến. Anh tôi say sưa tả về những nỗi đau đớn, khiếp sợ của những kẻ bị đấu tố và những gương mặt anh đội, chị đội khi đấu tố, tra khảo bọn địa chủ, phong kiến sao mà oai hùng thế, lẫm liệt thế. Kể rồi anh tôi ngồi im lặng, mắt lim dim, mơ mộng và cười nửa miệng.
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Bố tôi được bổ nhiệm lên huyện làm phó chủ tịch, rồi chủ tịch huyện. Cho tới nay, mặc dù cái thời bố tôi làm chủ tịch đã qua đi vài chục năm nhưng tôi không bao giờ quên cái hình ảnh quen thuộc của ông: Một chiếc xà cột đen đeo bên hông trái. Một chiếc đài Xiôngmao Trung Quốc đeo bên hông phải. Và oai nhất, mạnh mẽ nhất vẫn là khẩu súng lục đã tróc hết cả lớp si bóng, to như chiếc chân giò lợn đeo sau đít. Bố tôi luôn đi chiếc xe Xitéclinh được mua cung cấp, không chuông, không gácđờbu. Thời ấy, trông oai lắm. Tôi cứ nhớ chiều thứ bảy hằng tuần, cứ giờ bố tôi về, anh tôi lại rủ tôi ra cây đa đầu làng đón ông.
Sau tiếng reo gọi bố là anh tôi sà vào ông. Anh tôi nũng nịu bắt bố tôi dìu anh em tôi ngồi sau xe để bố tôi đèo và bao giờ anh cũng bắt tôi ngồi phía sau. Còn anh tôi ngồi phía trước, hết vỗ, lại sờ nắn khẩu súng lục đập lạch bạch sau đít bố tôi, mặt anh tôi vênh lên, kênh kiệu.
Chẳng biết anh tôi nghe đâu được câu chuyện huyền thoại về tài bắn súng của Tạ Đình Đề. Một lần, anh tôi theo bố lên huyện về, anh tôi đi khắp làng khoe với lũ trẻ: “Ở trên huyện, bố tao dạy các chú ở ủy ban bắn súng lục, bố tao để hai cái mũ liền nhau và ông đứng cách xa 50 mét, đầu tiên bố tao bắn đứt cái chóp mũ ở bên phải. Rồi bố tao cầm súng tay trái. Cũng không cần ngắm, bố tao xoay một vòng và nổ súng, tiện đứt chiếc chóp mũ ở bên trái”. Trong các lần kể chuyện này, bao giờ anh tôi cũng kết luận: “Bố tao bắn súng không kém gì Tạ Đình Đề”. Đấy, những năm tháng trẻ thơ mà anh em tôi sống trong sự hào quang của những chàng công tử con một ông “vua” làng, “vua” huyện là như thế.
Cho đến năm anh tôi học lớp 10 và tôi học lớp 7 thì ông tôi mất. Việc ông tôi mất bỗng nhiên trở thành sự kiện trọng đại nhất của xã, của huyện.
Các cơ quan, dân, chính, đảng của huyện, của xã hầu như những ngày này không làm việc mà chỉ tập trung cho cái đám tang của ông tôi thật long trọng và sang. Con đường từ huyện về xã tôi nhiều ổ gà, nhiều vũng trâu đầm, đội giao thông của huyện và hơn một trăm dân công của xã tôi được huy động làm suốt một đêm để san lấp, làm phẳng con đường để kịp cho các đoàn xe của tỉnh, của huyện về viếng ông tôi. Tôi đếm có dễ hơn một trăm vòng hoa. Mà sao lạ quá, tôi thấy có nhiều chú, nhiều bác đã đi chung với đoàn thể, cơ quan rồi, mà sau đó vẫn đi một vòng hoa và một phong bì riêng. Lạ nữa là sao họ cứ phải chờ bố tôi đứng ở đầu quan tài họ mới lần lượt vào viếng. Họ xưng tên rất to và kính cẩn lắm. Có người đã viếng rồi nhưng vẫn cố gặp cho kỳ được bố tôi để nói lời chia buồn thống thiết cùng với bộ mặt rầu rĩ, đau khổ không kém những người trong gia đình tôi. Thấy lạ, tôi hỏi anh tôi. Anh tôi cau mặt, mắng: “Mày ngu lắm, họ viếng gì ông. Họ viếng bố đấy. Mà không thấy bố dặn cả nhà rằng ai đến viếng, viếng cái gì, đều phải ghi chép cụ thể, rành mạch à!”. Tôi ớ người ra, cãi vớt vát ra điều mình cũng biết: “Chắc bố ghi thế để bố trả nợ”. Anh tôi lại mắng: “Đồ ngu, đã không biết gì lại còn ra vẻ. Bố là chủ tịch huyện việc gì bố phải trả nợ. Họ là lính tráng, quân quyền của bố thì họ phải thế”. Sau đám tang ông tôi, anh tôi vào đại học, còn tôi lên cấp III trường huyện. Tôi vốn là đứa trẻ lêu lổng, nghịch ngợm, ngang tàng từ bé. Việc bố tôi làm chủ tịch huyện hay chủ tịch tỉnh thì có gì quan trọng với tuổi học trò của tôi. Tôi có những trò nghịch nát nước và nổi tiếng trong trường. Một lần khi học bồi dưỡng lóp năng khiếu toán về đêm, tôi thấy các cô giáo giăng đầy xilíp, coócxê ở giữa lối đi. Tôi tức và gom hết lại, treo thành dây ở cổng trường. Sáng đến, từ thầy hiệu trưởng cho tới các thầy, các cô và hàng nghìn học sinh vào trường đều phải chui qua cổng chào treo đầy xilíp, coócxê. Thầy hiệu trưởng giận lắm, ông mời công an huyện tới điều tra. Từ đục tới chạm, họ lần ra tôi là chủ xướng của việc làm bậy bạ mang tính “chính trị” này. Họ báo cáo với bố tôi để biết, để răn dạy tôi. Sự việc ấy họ cũng cho qua để êm đẹp mọi bề.
Một lần khác, trên đường đi học về, tôi gặp ông bí thư huyện ủy. Mắt mũi ông kèm nhèm, ông đi chiếc xe Xitéclinh, không chuông, không gácđờbu và đeo cái đài Xiôngmao, xà cột, súng lục trễ như bố tôi. Tôi thấy ghét và ẩn ý định trêu ông. Tôi lạng xe qua mặt ông. Ông chệnh choạng tay lái. Ông cáu, ông quát tôi: “Mày đi kiểu gì thế?”. Tôi quay đầu lại cười, trêu ông: “Tôi đi kiểu Tây Ban Nha”. Ông điên tiết thực sự. Ông vừa lao lên đuổi vừa chửi: “A, thằng này láo. Mày con cái nhà ai? Mày không biết tao là ai à?”. Tôi quát lại: “Ông là gì tôi cũng đ… sợ”. Ông bí thư tăng tốc đuổi. Tôi chạy chữ chi. Ông đuổi tôi vòng quanh phố huyện. Cả huyện thấy một sự lạ: ông bí thư mặt hầm hầm phóng đuổi theo một đứa tò con. Họ ngơ ngác nhìn nhau. Tôi lừa ông đuổi tới chiếc cầu quẹo, đó là chỗ ngoặt nhất. Tôi vờ yếu sức để ông bám kịp. Bất ngờ, tôi tăng tốc lượn vèo qua cầu. Ông bám theo cũng với tốc độ lớn. Nhưng đường cua gấp quá, cả ông và xe lao bùm xuống sông, ông được một người đi đường lao xuống cứu. Đúng cái hôm xảy ra sự kiện ấy thì anh tôi được nghỉ hè về. Từ đầu huyện, anh tôi đã được biết chuyện tôi cho ông bí thư huyện ủy uống nước sông. Vừa về tới sân, anh tôi đã quẳng túi và vơ gậy đuổi đánh tôi. Tôi chạy ra hướng chuồng lợn thì tắc đường. Trông anh tôi mặt xám ngắt, tôi sợ quá. Phen này chắc chết. Hết đường tránh, tôi lao bũm xuống ao muống và lấy hơi lặn hết bè rau muống này tới bè rau muống khác. Nhưng cứ hễ nhô đầu lên để thở là ăn phải gậy của anh tôi. Mẹ tôi ở trên bờ kêu khóc: “Ối giời ơi, đất ơi, ối ông Hoàng ơi, ông về mà xem con ông nó đang giết nhau đây này. Ối giời ơi, làng nước ơi!…”. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng trốn thoát được trận đòn của anh tôi. Tôi trốn lên nóc bếp để xem gia đình tôi có chuyện gì xảy ra. Tối hôm ấy, bố tôi về, ông buồn bã lắm. Vừa tức tôi vừa giận anh tôi, ông ngồi lặng im ở hiên và rít thuốc lào vặt, hết điếu này tới điếu khác. Rồi ông sai mẹ tôi đi mua rượu. Tôi hoảng quá, vì lần đầu tiên tôi thấy bố tôi đòi uống rượu. Anh tôi bê mâm cơm đã dọn sẵn đặt cạnh ông. Ông nhìn anh tôi trừng trừng và không nói không rằng, bê mâm cơm quăng làm cái xoảng ra giữa sân. Mẹ tôi mang rượu về. Ông rót rượu uống, hết chén này tới chén khác. Tĩnh tâm rồi, ông mới hỏi: “Thằng Tố nó đi đâu?”. Chỉ chờ có vậy, mẹ tôi oà lên khóc. Anh tôi nói ráo hoảnh: “Con bực, con đánh nó, nó sợ, nó trốn không dám về”. Bây giờ bố tôi mới nói: “Bố có quyết định lên tỉnh, làm trưởng phòng chăn nuôi ở Ty Nông nghiệp”. Anh tôi rũ xuống như một tàu lá. Anh nói với bố tôi: “Bố là chủ tịch huyện, nếu họ điều lên tỉnh thì phải giữ chức trưởng ty mới tương đương chứ, sao lại là trưởng phòng? Hay là vì thằng Tố nó đẩy ông bí thư huyện xuống sông, ông đẩy bố đi?”. Anh tôi ngân ngấn nước mắt. Mãi anh mới nói tiếp: “Bố làm chủ tịch đến mười mấy năm rồi, lên không lên được, giờ lại xuống”. Anh tôi thở dài thườn thượt. Còn bố tôi không nói gì, ông chiêu một ngụm rượu và lại hút thuốc lào. Mặt anh tôi đanh lại. Anh nói dứt khoát như dao chém đá: “Bố làm đơn xin nghỉ hưu đi. Bố già rồi. Với lại cái lưỡi bố thẳng, bố không thể làm quan được. Sự nghiệp, bố để lại cho con. Con sẽ học. Con sẽ phấn đấu. Con quyết làm quan ra quan”.

Minh họa của Lê Thiết Cương.

Minh họa của Lê Thiết Cương.

 

Quả thật, từ cái ngày bố tôi thôi chức chủ tịch huyện, anh tôi thay đổi tính nết. Anh ít nói và lầm lì hẳn. Nhưng được cái anh học rất giỏi. Anh đã ra trường với mảnh bằng đỏ loại ưu. Một năm sau, anh tôi làm tổ trưởng bộ môn ở Bộ X. – một cơ quan nghiên cứu. Việc kết nạp vào Đảng là việc khó khăn lắm. Biết vậy nên khi cơ quan có nhu cầu lấy người biệt phái sang quân đội, anh tôi xung phong đầu tiên. Và ở quân đội, anh tôi được kết nạp vào Đảng. Sau 3 năm biệt phái sang quân đội, anh tôi trở về cơ quan cũ, được bổ nhiệm làm trưởng phòng và anh tôi lấy vợ. Anh tôi là trưởng phòng 5 năm nhưng chưa được cất nhắc lên vụ phó, vụ trưởng. Đúng lúc ấy thì tình hình biên giới căng thẳng. Các cơ quan thuộc các bộ, ban ngành ở Trung ương đều phải cử người lên tăng cường cho biên giới. Anh tôi nghĩ đây là thời cơ để tiến thân. Chắc hẳn sau đợt tăng cường đi biên giới về, anh tôi cầm chắc chức vụ phó, vụ trưởng. Vì thế anh tôi viết đơn bằng máu để xin ra tuyến đầu. Ở nhà, chị tôi chuẩn bị sinh nở đứa thứ nhất. Chị dâu tôi buồn, bảo: “Sao những công việc khó khăn, gian khổ của cơ quan anh đều xung phong nhận. Thế mà mãi vẫn ở chức trưởng phòng quèn”. Anh tôi cười, ôm vai chị, nịnh: “Vấn đề là ở chỗ ấy. Nếu anh lên vụ phó, vụ trưởng rồi thì anh đã không phải đi. Có chí thì làm quan. Có gan thì làm giàu. Gan thì anh không có, nhưng anh có chí, em ạ!”.

Rồi anh tôi vẽ ra một tương lai cho chị dâu tôi. Anh tôi sẽ đi một niên 3 năm, khi về chắc chắn anh tôi cũng là vụ phó. Biết đâu, chớp được thời cơ, anh sẽ là vụ trưởng. Vì anh tôi tính nhân sự ở cơ quan, số vụ trưởng, vụ phó già hết rồi. Còn lứa bạn đồng niên với anh, chẳng ai có thành tích hai lần đi mặt trận như anh. Khi ấy, anh mới có 35. Chà, 35 tuổi mà làm vụ trưởng một bộ quan trọng, thời buổi lão hoá cán bộ này, hiếm lắm đấy. Rồi từ ghế vụ trưởng lên ghế thứ trưởng, bộ trưởng bao xa. Chị tôi ngước mắt nhìn mái nhà lợp giấy dầu lâu ngày bị dột, nói: “Trước khi anh đi, anh dọn lại cái mái nhà. Ở nhà, em làm sao làm được – Rồi chị tôi chép miệng – Mấy ông vụ phó, vụ trưởng đợt này sướng thật, được phân mỗi người một căn hộ ba buồng khép kín”. Anh tôi bảo: “Ôi dào, mấy năm nữa nhà mình cũng sẽ được phân như thê”-. Nhà anh tôi nghèo lắm. Anh tôi ngắt toàn bộ lương để ở nhà cho chị tôi. Còn anh, anh bảo lên với đồng bào dân tộc, anh cũng học tập lối sống tự cung tự cấp. Mà thật, ở biên giới, anh tôi có vẻ thích nghi lắm. Lần nào về, anh tôi cũng xắn tay áo lên, để lộ ra những bắp thịt cuồn cuộn, săn đỏ. Anh cười hỉ hả: “Trông thích không? Làm nương, làm rẫy với đồng bào dân tộc, mình thấy khoẻ ra. Với lại khí hậu ở trên ấy thích lắm”. Nói vậy thôi chứ nhìn thấy vợ con nheo nhóc, bần hàn, mặt anh tôi buồn rười rượi. Anh tôi ngước nhìn qua cửa sổ sang các căn nhà của các ông vụ phó, vụ trưởng. Anh tôi nghĩ gì, tôi biết lắm chứ.

Đùng một cái chiến tranh biên giới xảy ra. Tin về mặt trận biên giới từng phút từng giờ như một cái lò than mỗi lúc một rực hồng muốn thiêu đốt hết không khí của Hà Nội. Bố tôi ở quê ngày nào cũng nhắn ra: “Có tin gì về anh không?”. Chị tôi nháo nhác, tối nào cũng tất tưởi, quáng quàng chạy bổ xuống tôi hỏi tin chiến sự ở vùng anh tôi đang ở. Tôi biết nói gì ngoài những lời trấn an chung chung của người làm công tác báo chí rằng chị cứ yên tâm, chiến tranh biên giới, ta đã biết trước; rằng ta đã chủ động hoàn toàn, đã tính đến tình huống; rằng trước chiến thuật biển người của địch, ta lui từng phần, đó là ý đồ chiến lược. Rồi chị xem, địch sẽ bị đẩy lùi. Nói rồi tôi đưa cho chị các tờ báo nói về chiến thắng của quân và dân ta ở biên giới. Chị còn bụng dạ nào để mà xem. Chị chỉ ngồi khóc. Chị tôi nhìn xuống cái bụng lùm lùm sắp đến tháng đẻ đứa thứ hai của anh chị tôi.

Đúng lúc gia đình tôi căng thẳng, lo âu cho anh tôi thì anh tôi đội bom đạn ở biên giới tạt về Hà Nội. Người, đầu tóc, quần áo anh khét lẹt mùi của chiến trường, súng đạn. Anh tôi mang theo một khẩu AK và một ba lô chật cứng lương thực, thực phẩm. Anh tôi bảo: “Chiến tranh có thể lan rộng. Em chuẩn bị tinh thần đưa chị và cháu về quê”. Sáng hôm sau, anh tôi vẫn mặc trên người bộ quần áo lấm lem, khét lẹt mùi bom đạn chiến trường tới nói chuyện với anh em trong cơ quan của anh tôi về chiến sự ở biên giới. Anh tôi được đón tiếp như người anh hùng.

Đêm sau, anh tôi lại vác khẩu súng và chiếc balô theo đoàn tàu quân sự ra mặt trận.

Cũng lại đùng một cái, chiến tranh biên giới kết thúc. Bắt đầu chiến tranh và kết thúc chiến tranh chỉ như một khoảnh khắc. Nó giống như một đêm mưa, sáng hôm sau trời lại sáng. Và anh tôi trở về. Anh tôi được bố trí ngồi ghế chuyên viên để chờ sắp xếp lên phụ trách một vụ. Cơ quan của Bộ nói với anh tôi: “Đồng chí có năng lực, trẻ, lại có thành tích chiến đấu, trước mắt Bộ sẽ đề bạt đồng chí làm vụ phó nhưng phụ trách vụ. Sau một thời gian, nếu đồng chí làm tốt, anh em tín nhiệm thì sẽ đề bạt thẳng lên vụ trưởng. Cố gắng nhé!”. Có lẽ chưa bao giờ tôi thấy anh tôi vui và trẻ ra như lúc này. Anh tôi mát tính hẳn và lúc nào cũng cười. Nhưng, hỡi ơi, quyết định vụ phó chưa tới thì anh tôi bị bệnh sút cân và khó thở. Đầu tiên nghi là lao nhưng đi khám bệnh, làm sinh thiết ở bệnh viện Bạch Mai và viện K, kết quả trả lời là bị ung thư phổi. Phổi tràn đầy dịch. Người ta chẩn đoán nguyên nhân có thể là anh tôi bị nhiễm độc ở biên giới. Anh tôi có kể với bác sĩ rằng: “Trong một lần phá vây, anh tôi lạc vào một trận địa có rất nhiều xác chết đã thối rữa mà không có người chôn. Anh tôi có uống một đôi lần nước suối có xác người chết. Vậy là rõ. Cái việc anh tôi bị ung thư không chỉ là cú sốc nặng đối với gia đình tôi, mà cơ quan anh tôi ai cũng thương, cũng tiếc cho một cán bộ trẻ, có năng lực, đầy triển vọng. Từ ông bộ trưởng, các thứ trưởng, cho tới các cục, vụ cứ thay nhau vào thăm, quà cáp và an ủi anh tôi. Ông bộ trưởng chỉ thị: “Còn nước còn tát. Bộ không tiếc sức, tiền của, phương tiện để chữa chạy cho đồng chí”. Rồi ông giao trách nhiệm cho Vụ trưởng Tổ chức Cán bộ, Chánh văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Hành chính Quản trị đều là bạn học cùng khoá ở trường đại học với anh tôi. Đúng lúc anh tôi bị bệnh thì theo yêu cầu của tổ chức, một loạt các cán bộ chủ chốt của Bộ tuổi cao đã nghỉ hưu nên một loạt cán bộ trẻ lên thay. Họ tiếc cho anh tôi và tận tâm chăm sóc anh tôi theo hai nghĩa: Vừa là trách nhiệm, vừa là tình cảm. Đúng là trong thời gian bị bệnh, anh tôi sống theo nhu cầu. Cơ quan đã đưa anh tôi đi khắp các bệnh viện, cho người đi tìm thuốc lá, thuốc nam của các danh y nổi tiếng từ Nam chí Bắc. Nhưng bệnh tình ngày một trầm trọng. Biết là sắp chết, anh tôi đòi về quê. Cái buổi tiễn đưa anh tôi về quê nó khắc một dấu ấn đau xót nhất trong đời tôi. Bạn cứ hình dung xem, trên đời này có cuộc tiễn đưa nào đau đớn hơn là cuộc tiễn đưa của những người đang sống với một người vẫn sống nhưng chắc chắn rằng người đó sẽ chết và đây là buổi gặp mặt, buổi chia tay cuối cùng. Buổi sáng anh tôi chuẩn bị về quê, ở khu tập thể nhà anh tôi đông nghịt người của cơ quan, bạn bè thân hữu, bà con khối phố. Ai cũng cố đến với anh tôi. Họ cầm bàn tay của anh tôi nói những lời động viên, an ủi vô nghĩa cuối cùng nhưng mắt ai cũng rớm lệ. Trong cái đám, đông ấy tôi nhận ra chị Hà – người yêu cũ của anh tôi. Chị đứng lặng, nhìn anh tôi và oà lên khóc. Dường như không còn tự chủ được nữa, chị lao tới bên anh đang ngồi dựa trong một chiếc ghế xalông. Chị ôm cái thân hình oặt ẹo chỉ còn xương và da của anh trong vòng tay của chị. Những giọt nước mắt của chị cứ tuôn trào ướt đẫm mái đầu chỉ còn lơ thơ vài cụm tóc xơ xác, đỏ quạnh và chảy xuống bộ mặt phù nề, tím tái của anh tôi. Tôi thấy anh tôi bỗng nhắm mắt lại. Anh hơi mở miệng đón lấy những giọt nước mắt của chị. Rồi anh chủ động gỡ vòng tay của chị ra. Anh gượng đứng dậy, vịn vào vai tôi, nói những lời cuối cùng: “Thôi, xin chào các ông, các bà, các bác, các anh, các chị, tôi đi nhé”. Anh cố nói nhẹ nhàng, bình thản nhưng ai cũng cảm nhận được sự đau đớn khôn cùng này. Vậy là không ai bảo ai, mọi người cùng khóc trong câm lặng. Thật đúng là cuộc chia tay nặng nề, thấm đầy nước mắt. Xe đã chuyển bánh lâu rồi nhưng cả anh tôi, tôi và chị dâu im lặng. Dường như cuộc chia tay vừa mới xảy ra vẫn còn đang luẩn quẩn ở trong đầu và đang gây một ấn tượng, một cú sốc dữ dội trong mỗi người chúng tôi. Mãi rồi chị tôi cũng lên tiếng: “Con Hà nó thương anh thế, chắc chết xuống âm phủ rồi, anh cũng còn nhớ nó nhỉ?”. Anh tôi nhăn mặt, đau đớn: “Khổ quá, tôi sắp chết rồi mà mẹ nó vẫn còn ghen”. Tôi lên giọng cằn nhằn với chị tôi để xoa dịu cái nỗi đau đang vật vã trong lòng anh tôi: “Chị kỳ quá, anh ấy thế, ai chẳng thương. Chị thấy, cả trăm người tới thăm thì cả trăm người khóc. Chị phải tự hào rằng, anh ấy sống thế nào thì mới được mọi người quý như thế chứ”. Chị tôi bĩu môi: “Thương… thương hão. Thương miệng, thương môi thì ai chẳng thương được. Đấy, chú thấy, trong thời gian anh ấy ốm, họ hứa bao nhiêu điều. Nào là chuyển đổi nhà, nào là bố trí lại công việc cho tôi, nào là việc của các cháu… Bây giờ thì đã được cái gì”. Anh tôi gạt đi: “Thì họ lo cho tôi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác, hết thuốc này tới thuốc khác, việc nhà nước có phải lúc nào họ cũng chỉ lo cho riêng mình đâu. Còn những việc mẹ con nó nói, tôi đã biên thư và nói với các anh lãnh đạo rồi. Riêng việc đổi nhà thì thằng Hảo, chánh văn phòng, nó là bạn thân của tôi, chẳng lẽ nó không lo được à. Nó còn mặt mũi nào…”. Nghe nói tới đó, chị tôi khóc nức nở, nói: “Lão Hảo, bạn anh… anh mà tin nó thì có ngày…”. Chị tôi khóc vì tủi hờn, vì đau xót, hay vì một điều gì uẩn khúc, lúc ấy tôi không được biết. Nhưng sau này, khi anh tôi mất rồi, chị mới kể lại: “Lão Hảo đòi tòm tem với chị, lão mới chịu phân nhà…”.

Anh tôi về quê cho tới hôm nay – ngày tôi nhận được tin anh tôi chết – vừa được một tháng mười hai ngày.

Từ sân bóng tôi đi thẳng xe về cơ quan tôi để báo cáo cơ quan chuẩn bị xe, người và cùng quay về quê ngay. Sau đó, tôi đến cơ quan anh tôi. Theo lời anh tôi dặn, tôi tìm hết những người mà anh tôi cần báo. Tôi nhắc đi nhắc lại lời yêu cầu của anh tôi là lời điếu phải được viết hết nhẽ cái lý lịch, cái thành tích của anh tôi và phải đóng dấu son. Thấy lời trăng trối cuối cùng của người chết quan trọng và thiêng liêng quá, ông Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ triệu tập một cuộc họp khẩn cấp với một số cán bộ chủ chốt có trách nhiệm tới tang lễ của anh tôi và nêu trách nhiệm của cơ quan và của mỗi người với người đã khuất. Rồi ông Vụ trưởng phân công: “Vụ Tổ chức Cán bộ rà lại lý lịch, thành tích, công trạng của anh tôi thật kỹ, chuẩn xác và giao cho anh Hiếu, có hai bằng cử nhân viết lần đầu. Sau đó đưa anh Tăng, Vụ phó chỉnh lý, rồi đưa lên Vụ trưởng duyệt lần cuối cùng. Xong, cho đánh vi tính và đích thân đồng chí Thứ trưởng phụ trách tổ chức ký, đóng dấu”. Cũng tại cuộc họp này, mọi người bàn kỹ tới việc cử người đi viếng. Ai trưởng đoàn, ai phó đoàn; cần đặt bao nhiêu vòng hoa; mỗi vụ, mỗi cục đi mấy người; đi một hay hai xe… vân vân và… vân vân… Cuộc họp bàn về tang lễ của anh tôi đã hết một buổi chiều.

Sau khi nắm được toàn bộ kế hoạch tang lễ của cơ quan anh tôi và đặc biệt là được xem lời điếu một cách kỹ lưỡng, tôi yên tâm lên xe cùng với một vài bạn bè về quê. Vừa thấy tôi, bố tôi ôm mặt khóc. Mẹ tôi quệt nước mắt ngang mặt, nói: “Đêm qua, trước khi chết nó gọi con suốt đêm. Rồi nó nhắc đủ tên bạn bè của nó, anh em cùng cơ quan nó. Thật thương quá, con ơi! Nó thèm sống quá mà ông trời nỡ bắt nó đi”. Bố tôi gắt: “Bà cứ lẩn thẩn làm gì”. Rồi ông hỏi tôi: “Sao cơ quan của anh con chưa có người về à?”.

Tôi trả lời: “Cơ quan anh con họ chu đáo lắm. Họ thành lập ban tang lễ rất long trọng do Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ làm trưởng ban và đích thân ông sẽ thay mặt lãnh đạo Bộ đọc lời điếu. Sáng mai cơ quan đoàn thể sẽ về trước giờ đưa tang một tiếng, bố cứ yên trí”.

Sớm hôm sau, tôi cử người nhà ra tận cây đa đầu làng để đón đoàn viếng tang lễ của cơ quan anh tôi sắp về. Tôi biết, đoàn sẽ có nhiều vòng hoa. Nào là của Bộ, của các cục, vụ, của đảng ủy, chi bộ và các đoàn thể phụ nữ, thanh niên… Nên tôi cử mươi mười lăm đứa em là con chú, con cô tôi cũng đợi sẵn ở cổng làng để chuẩn bị mang vác hoa viếng của đoàn.

Giờ đưa anh tôi trở về nơi thiên cổ đã được định, không thể trì hoãn được. Vậy mà tới sát giờ đưa vẫn không thấy đoàn của cơ quan anh tôi. Tới giờ, gia đình tôi quyết định đưa anh tôi đi. Nhìn cái đám tang chỉ có những người trong họ tộc, làng xóm lèo tèo vài ba vòng hoa dại của hợp tác xã, hội phụ lão, tôi chợt nhớ tới cái đám tang của ông tôi khi bố tôi còn đang chức chủ tịch huyện, sao mà đẹp đẽ và long trọng thế.

Rồi đến lễ hạ huyệt của anh tôi cũng vẫn diễn ra suôn sẻ, với đầy đủ các thủ tục cổ trụyền cần thiết của một vùng quê. Phường bát âm tò te tí te bài ai điếu tiễn đưa người quá cố xuống mồ thống thiết. Ông chú tôi làm ở ủy ban xã thay mặt chính quyền và thân tộc nói đôi lời về tình câm, sự cống hiến của anh tôi gắn với truyền thống cách mạng của làng, xã và mọi người lần lượt ném viên đất xuống mồ anh tôi. Chỉ một loáng, ngôi mộ được đắp cao và mọi người lục tục ra về. Đúng lúc ấy thì đoàn viếng lễ tang của cơ quan anh tôi về đến nơi. Đoàn mang theo cơ man nào là vòng hoa. Trông thấy ông Vụ trưởng Tổ chức Cán bộ, bố tôi tu lên khóc. Bố tôi trở lại bên mộ anh tôi và nói trong nước mắt: “Con ơi, Toàn ơi, các bác, các anh, các chị ở cơ quan về với con đây, con có biết không?”. Chị dâu tôi cũng ca bài ca ai oán: “Ối anh ơi là anh ơi, ở dưới suối vàng anh có mát lòng mát ruột không. Đêm kia, trước khi anh chết, anh gọi mẹ, gọi cha, gọi em, gọi anh, gọi thủ trưởng cơ quan, gọi bạn gọi bè, vậy mà anh chỉ ước mơ một lời điếu cũng không được. Anh ơi là anh ơi!”. Lời trách giận, ai oán của chị dâu tôi xói tận óc và bóp nghẹt con tim của những người đang cúi đầu trước ngôi mộ của anh tôi. Từ ông Vụ trưởng cho tới mọi người, ai cũng đau khổ, mắt đỏ hoe. ông Vụ trưởng lấy túi áo ra bài điếu, ông trịnh trọng vuốt thẳng tờ giấy và nghẹn ngào đọc. Xong rồi ông đánh diêm đốt lời điếu có dấu son lẽn trên ngôi mộ của anh tôi.

Trên đường về, ông mới giải thích cho bố tôi và mọi người trong gia đình tôi hiểu vì sao lại có sự chậm trễ này. Thì ra, sáng nay khi mọi người đã tập trung đầy đủ để lên xe thì có một trục trặc nhỏ nhưng đặc biệt quan trọng là lời điếu đã được bao nhiêu cấp duyệt rồi nhưng vẫn còn thiếu dấu son. Cô văn thư còn phải đi chợ mua đồ ăn cho chồng, cho con bữa tối nên cô tới cơ quan muộn. Chắc ở dưới suối vàng, biết được chuyện này, anh tôi cũng phải ngậm cười mà thông cảm…

Sau đám tang của anh tôi, tôi thôi hẳn cái niềm say mê cùa một cầu thủ tiền đạo trên sân bóng. Và cũng từ đấy, tôi chỉ ngồi ở ghế của người đi xem.

Hà Nội, tháng 4 năm 1995

Hữu Ước
“Cả cuộc đời tôi chỉ làm báo và viết văn. Tôi không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo CAND - ANTG và VNCA cho tốt. Đấy là với tư cách một Tổng biên tập. Còn với tư cách con người thì tôi muốn cuộc sống có ý nghĩa và bình an.”