Hành trình Trung – Bắc Mỹ

I- CU BA – HÒN ĐẢO KỲ BÍ VÀ HUYỀN THOẠI

Đã không dưới bốn lần tôi bị nhỡ chuyến thăm Cuba với tư cách là một nhà báo vì nhiều lý do: khi thì không làm kịp  visa, khi thì các bạn đồng nghiệp Cuba của tôi rất bận và khi thì tôi không sắp xếp được công việc. Có lẽ vì thế mà Cuba đối với tôi vẫn luôn luôn là một hòn đảo nhỏ chứa đầy sự kỳ bí và huyền thoại về nhiều phương diện. Là người Việt Nam, có lẽ không mấy ai không biết về Cuba, một hòn đảo nhỏ, ở bên kia bán cầu, cách ta nửa vòng Trái Đất với số dân ít ỏi (nhỉnh hơn một chục triệu người); lại ở sát nách Mỹ, cùng chung một bờ biển với Mỹ và là cái rốn, cái “mắt bão” của cả một vùng vịnh Caribê rộng lớn cả về nghĩa đen và nghĩa bóng. Vậy mà Cuba một nước đầu tiên và duy nhất ở Châu Mỹ vẫn ngạo nghễ tồn tại và đứng vững trên đôi chân lúc nào cũng lấm bùn đất và trầy da tróc vẩy của mình với tư cách là một đất nước tự do độc lập và có chủ quyền, không lệ thuộc, không khuất phục bất cứ một cường quốc nào trong suốt 42 năm qua. Và cũng từ thuở ban đầu hồng hoang của “Hòn đảo nhỏ Cuba” tuyên bố tự do độc lập và đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa thì Hòn đảo tự do đã trở thành kẻ thù số một không đội trời chung của Mỹ. Và cũng kể từ ngày nước Cộng hòa Cuba ra đời năm 1959, thế giới đã thay đổi rất nhiều nhưng chính sách của Mỹ đối với Cuba vẫn tiếp tục không thay đổi. Washington không chịu đựng nổi sự cùng tồn tại với “một người” láng giềng sát nách – một Cuba tự do và một Castro hiên ngang bất khuất lúc nào cũng mắng Mỹ và đánh Mỹ. Còn với Việt Nam thì Castro sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình…

Một chặng đường nước Mỹ

Một chặng đường nước Mỹ

Đấy, thưa bạn đọc, ấn tượng về một Cuba trong tôi là vậy nên tôi hồ hởi lên đường tháp tùng đoàn của Phó Thủ tướng Thường  trực Nguyễn Tấn Dũng sang thăm Cuba. Ở chuyến đi này, với tư cách một phóng viên, ngoài nhiệm vụ viết bài, chụp ảnh, đưa tin các hoạt động của Phó Thủ tướng trên tờ An ninh thế giới thân yêu của tôi, tôi ước ao được một lần tiếp xúc, được gặp mặt Castro – một  con người được truyền tụng với không biết bao nhiêu huyền thoại hư và thực, và cũng từ sự ước muốn được khám phá đâu là con người thực, đâu là sức mạnh tiềm ẩn làm nên một Phidel Castro, vì thế mà trong chuyến đi này tôi những muốn tìm hiểu cả về đất nước Cuba – bé nhỏ mà hiên ngang, và cả về những người dân nghèo khó của Cuba. Tóm lại là tôi rất muốn biết: Cuba – “Anh” là ai?

Háo hức đến nao lòng với bao dự định trước chuyến đi này nhưng khi ngồi trên máy bay một chặng đường dài 24 giờ đồng hồ, tôi lần giở chương trình thăm, làm việc của Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng tại Cuba, quả thực là tôi sững sờ và giật mình khi không thấy có đề mục Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Cuba – Phidel Castro – tiếp Phó Thủ tướng Thường trực của ta. Nỗi lo lắng và băn khoăn này cứ đeo bám tôi mãi, đánh bạo, tôi mạo muội hỏi Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng khi ngồi trên máy bay. Ông không trả lời mà chỉ mủm mỉm cười. Thì ra, các nhà chính khách vốn thế. Bao giờ cũng kín tiếng  tiết kiệm lời và không bao giờ nói trước những điều gì chưa diễn ra và chưa trở thành hiện thực! Thôi đành vậy, để “hồi sau sẽ rõ…”. Tuy bụng bảo dạ là vậy nhưng khi đặt chân tới đất nước Cuba, tôi nêu vấn đề với các đồng nghiệp của tôi – hai nhà báo Việt Nam thâm niên có hạng ở Cuba là nhà báo Nguyễn Thành, Phân  xã trưởng và nhà báo Lê Hải của Thông tấn xã Việt Nam, rằng sao lại không thấy nói tới cuộc tiếp kiến thân mật giữa Chủ tịch Phidel Castro với Phó Thủ tướng Thường trực của ta, hay là…(?) Nói tới đó tôi sợ phạm húy bởi khi còn trong nước tôi có nghe phong thanh qua “thông tấn xã truyền miệng” rằng đã có lần Chủ tịch Phidel chất vấn một nguyên thủ của ta về vấn đề Việt Nam xoá bỏ bao cấp mà chuyển sang kinh tế thị trường, chấp nhận nền kinh tế cạnh tranh, như vậy là thế nào? Liệu Việt Nam có đổi mới quá đà hay không (?). Thấy tôi vân vi về vấn đề nhạy cảm chính trị này, nhà báo Nguyễn Thành cười, nói với tôi: “Ông bảo, mấy chục năm nay, kể từ khi Phidel Castro tuyên bố đi theo con đường của Mác – Lênin, xây dựng một Nhà nước  Cuba Xã hội chủ nghĩa ở giữa “cái rốn” của các nước tư bản thuộc Châu Mỹ thì làm sao mà “họ” chịu được. Tính ra “cụ” Phidel đã bị không dưới 670 vụ mưu sát các kiểu, các loại của đủ các địch thủ; nước ngoài có, bọn phản động là người Cuba ở nước ngoài hay ở ngay trong nước… đều có. Vì thế khi “cụ” tiếp ai và làm gì đều phải bất ngờ, không theo một lịch trình nào được ấn định trước. Đấy, rồi ông xem, thế nào ông cũng được gặp Phidel dịp này. Còn ở đâu, lúc nào, vào thời điểm nào thì phải chờ xem Đoàn ta hoạt động trên đất bạn ra sao (?). Khi đã nắm được tất cả mọi vấn đề rồi thì “cụ” mới quyết định.

Ngoài việc bố trí để Phó Thủ tướng Thường trực nghỉ ở một khu riêng  thì đoàn tùy tùng của chúng tôi cũng được Bạn sắp xếp ăn ở hạng “víp” tại khách sạn của Hội đồng Nhà nước Cuba. Đó là một khu biệt thự cổ nằm trên một quả đồi thấp, thoai thoải, bạt ngàn một màu xanh của cây và cỏ. Trong khu biệt thự có cả một cái hồ rất rộng và trên mặt hồ tôi thấy có vịt nuôi, vịt trời nhưng nhiều nhất vẫn là cò. Cò từng đàn, trắng xóa mặt hồ đã tạo nên một “vườn” thiên nhiên tuyệt mỹ. Khung cảnh và biệt thự nhìn bên ngoài thì quá đẹp nhưng tôi thật không ngờ nội thất bên trong của “nhà khách quốc tế” của Hội đồng Nhà nước Cuba lại thiếu đủ các thứ đến như vậy. Nghe đâu khu biệt thự nhà nghỉ này đã từng là nơi “ngự” của nhiều nguyên thủ quốc gia của các siêu cường khi đến Cuba. Mới đây nhất là Tổng thống Nga Putin cũng “ngự” ở nơi này. Vậy mà trong các phòng nghỉ đều không có tủ lạnh, tivi cho khách sử dụng. Chưa hết ngạc nhiên về chuyện ăn và ở thì tôi lại ngạc nhiên khi thấy nhân vật số  hai trong số các yếu nhân của Cuba là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Thư ký Thường trực Hội đồng Bộ trưởng Cuba – đồng chí Cáclốt Lahôđa Vila, mỗi khi đón, đưa và tới thăm Phó Thủ tướng Thường trực của ta, ông đều đi trên một chiếc Lada cũ mòn lốp của Liên Xô cũ. Có lẽ, đến lúc này tôi mới thấu hiểu khi ở nước nhà, mỗi khi nhắc tới Cuba thì dù là một nhà lãnh đạo cao cấp hay một cán bộ tầm tầm bậc trung đều có một câu cửa miệng: “Bạn nghèo lắm!”. Về điều này tôi luôn cảm nhận được ở tất cả những nơi tôi đã đến thăm trên đất nước Cuba. Để minh chứng cho bạn đọc, tôi đã mạo muội chụp một bức ảnh về một căn phòng là nơi tiếp khách của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba. Nói đúng ra thì đây là một gian tiền sảnh rộng chừng 20 m2 . Cả căn phòng chỉ có một bộ ghế xalông cũ bọc vải giả da đã ố vàng. Trên tường vẻn vẹn treo một bức tranh sơn mài “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” và một bức tranh thêu Chùa Một Cột có bút tích của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tặng Đảng Cộng sản Cuba. Nếu tính đến một tài sản đáng giá trong phòng khách của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba thì đó là một chiếc tivi thùng gỗ hiệu Panasonic cũ kỹ sản xuất từ thập kỷ 70. Còn bước vào phòng họp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba thì ngoài hơn chục chiếc ghế cổ và một chiếc bàn khổng lồ hình chữ nhật choán hết cả căn phòng tôi chỉ thấy có duy nhất một lá cờ Cuba, bên cạnh là bức phù điêu người anh hùng, người lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Cuba – Jose Marti. Quả thật, trăm nghe không bằng một thấy, tới đất nước Cuba, một dân tộc bé nhỏ lại sống rải rác tới trên 1.600 hòn đảo không có lấy một mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ thiếc, mỏ chì và ngay cả đến nguồn khoáng sản giá trị thấp như than bùn, than nâu cũng chẳng có; vậy mà mỗi khi Việt Nam phải đương đầu với công cuộc chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc hay mỗi khi “trái gió trở trời”, hạn hán thiên tai thì Cuba dù nghèo khó tới mấy cũng nhường cơm sẻ áo cho người anh em máu thịt của mình từng giọt sữa, cân đường… Tính sơ sơ thì trong và sau chiến tranh, Cuba đã  viện trợ cho Việt Nam 75 vạn tấn đường; tặng và giúp ta xây dựng nhiều công trình kinh tế quan trọng, nâng tổng giá trị và sự ủng hộ vật chất của Cuba cho ta lên tới gần 1 tỉ đôla. Trong tình hình muôn vàn khó khăn hiện tại nhưng các đợt lũ lụt thiên tai ở  Nam Bộ và miền Trung, Chính phủ Cuba đã kịp thời ủng hộ mỗi đợt 100.000 USD (năm 1997-1999). Nói đến sự nghèo khó của Cuba thì phải tính đến thời điểm được bắt đầu từ những năm 90. Nghĩa là sau sự từ bỏ Cuba của các nước Đông Âu anh em vì khối các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Vào thời điểm ấy nhiều nhà nghiên cứu về Cuba của phương Tây đều cho rằng đó là những ngày cuối cùng của chế độ Nhà nước Cộng sản Cuba do Phidel Castro lập nên. Còn nhớ, năm 1992, người Mỹ là người đầu tiên  ăn mừng 30 năm cấm vận Cuba, đồng thời siết chặt hơn sự phong tỏa bằng Luật Torriceli. Từ năm 1990 đến  năm 1993, GDP của Cuba đã giảm 35%, xuất khẩu thiệt hại 70%, nợ Nhà nước chiếm tới 53% tài sản quốc gia và thu nhập đầu người giảm một nửa: Trước tình thế ấy, Phidel Castro đã triển khai một chương trình gọi là một “giai đoạn đặc biệt hoà bình” với chủ trương thắt lưng buộc bụng chưa từng có để giải vây tình thế khó khăn vì nền kinh tế của Cuba khi đã ở cuối con đường hầm.

Năm 1993, trong tình thế tuyệt vọng thì Phidel Castro đã quyết định lựa chọn sự khó khăn hơn là sự  tồi tệ. Vì thế mà Castro cho ra đời khẩu hiệu: “Tổ quốc hay là chết”. Khẩu hiệu này đã trở thành trọng điểm của Nhà nước Cuba trong việc tuyên truyền chính trị. Trong các trường học và trong các cuộc tranh luận chính trị, các nhà tư tưởng của Cuba đã tăng cường việc quay trở lại lịch sử chống đế quốc của Cuba. Chủ nghĩa dân tộc này phục vụ cho việc tạo ra một sự nhất trí thống nhất trong toàn xã hội Cuba. Công bằng mà nói, vấn đề cốt lõi của Nhà nước Cuba trước và sau vẫn là đối phó với chính sách hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc và cùng nhau bảo vệ thành quả cách mạng. Những giá trị khác mà Phidel và Đảng Cộng sản Cuba rất chú trọng là nhân phẩm, nhân cách, sự hy sinh và lòng tự trọng dân tộc. Chính vì thế mà trong bối cảnh một nước nghèo khó nhưng tình đoàn kết, sự công bằng và bình đẳng giữa con người với con người về mặt kinh tế, chính trị, xã hội thì tôi đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng dám khẳng định rằng không đâu bằng đất nước Cuba. Cùng với việc tuyên truyền, giáo dục chính trị thì Cuba đã có bước chuyển về đường lối kinh tế mặc dù vẫn kiên trì tính “bảo hoàng… như vua”: Kiên quyết phê phán và không chấp nhận nền kinh tế thị trường…

* * *

Nếu nói về Cuba – một nước nhỏ được coi là “mắt bão” của vùng Caribê, bị bao vây ba bề bốn bên bởi các nước tư bản đứng đầu là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì tất yếu sẽ có một nghìn lẻ một những điều kỳ bí và huyền thoại. Và, về điều này, người đầu tiên phải kể đến, đó là Fidel Castro và việc đầu tiên phải kể đến, đó là tài hùng biện, tài thuyết khách, sự uyển chuyển trong giao tiếp và cách diễn giải để thu phục nhân tâm ở ông. Trong những ngày ở Cuba, tôi đã thử kiểm chứng một số người là cán bộ, là chiến sĩ an ninh, là người phục vụ, là học sinh hay một nông dân ở vùng rất xa thủ đô La Habana thì, tất cả đều nói ít nhất đã không dưới một lần được nghe Fidel Castro nói chuyện. Họ đều nói nếu được nghe Fidel Castro nói chuyện thì mọi khó khăn, mọi gian khổ họ đều có thể vượt qua và họ càng thấy yêu đất nước Cuba, tự hào về đất nước Cuba của họ hơn. Tôi có hỏi lần nói chuyện dài nhất, lâu nhất của Fidel Castro là bao lâu? Người bảo được nghe từ tối tới sáng, người bảo 15 tiếng, người bảo 9 tiếng. Tuy không ai làm ghinét kỷ lục về thời gian nói chuyện của Fidel Castro nhưng ai cũng bảo rằng nếu được nghe Fidel Castro nói chuyện thì dù là bao nhiêu tiếng cũng rất ít người bỏ ra về. Về điều này, thật may mắn cho tôi, tôi được mục sở thị ngay ngày thứ ba khi chúng tôi ở trên đất nước Cuba – ngày 3-12-2001. Chiều tối ấy, tôi nghe phong thanh sẽ có cuộc nói chuyện của Fidel  với sinh viên và thanh niên tại sân vận động Latino Americano. Tôi rất muốn được chứng kiến Fidel nói chuyện trước công chúng nhưng lại sợ nhỡ lễ ký các hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và Cuba diễn ra vào lúc 18 giờ cùng ngày. Và, biết đâu… trong trạng thái phấn chấn, ông sẽ lại từ sân vận động đến thẳng với những người bạn Việt Nam chúng tôi trong lễ ký kết này… Dự đoán vậy và chúng tôi bằng lòng với việc mở tivi xem tại phòng khách của khách sạn Palco – nơi diễn ra lễ ký kết. Trước màn hình tivi được truyền trực tiếp, tôi thấy cả một biển người, là thiếu niên, sinh viên, thanh niên, nam giới, phụ nữ. Tôi hỏi anh Lê Hải – phóng viên thường trú của Báo ảnh Việt Nam tại Cuba và là người thông dịch viên giúp đoàn nhà báo trong nước chúng tôi – Rằng chính xác có bao nhiêu người dự cuộc nói chuyện này. Anh lắc đầu bảo chịu nhưng cũng phải tới ba bốn trăm nghìn người. Anh nói anh đã chứng kiến một cuộc Fidel nói chuyện với trên một triệu người, nghĩa là 10% dân số của cả nước Cuba đã đứng chật cứng trên Quảng trường Jose Marti và các đường phố xung quanh để nghe Fidel nói chuyện từ 9 giờ tối cho tới 5 giờ sáng ngày hôm sau. Nhân thể cùng ngồi xem tivi, anh dịch cho chúng tôi nghe điều Fidel đang nói: “Cuba bước vào thiên niên kỷ mới không phải là Cuba của năm 1959, lúc đó chúng ta còn thiếu kinh nghiệm, vũ khí và mù chữ. Ngày hôm nay, không còn người mù chữ và có 2 người tốt nghiệp đại học so với  2 người tốt nghiệp lớp 6 lúc ấy, hàng triệu nam giới và phụ nữ đã học cách sử dụng vũ khí, hàng vạn người đã hoàn thành các sứ mệnh quốc tế, hàng vạn cán bộ đầy kinh nghiệm đã được đào tạo trong đấu tranh, nhân dân chúng ta có một trình độ cao về giáo dục, một nền văn hóa chung và về chính trị. Cả đất nước là một trường học lớn. Chúng ta đã học được cách kháng cự và thắng lợi trong mọi hoàn cảnh. Không có một dân tộc nào được chuẩn bị tốt hơn, ít bị phụ thuộc hơn vào thương mại và quan hệ kinh tế với một nước có tiềm năng giàu có và cần thiết nhất cho các nước khác trên thế giới, một dân tộc Tự do nhất trong việc bày tỏ chân lý và bảo vệ các quyền của các dân tộc bị bóc lột và nghèo nàn trên thế giới trong mọi diễn đàn và hội nghị quốc tế.

Cuba sẽ không dao động việc tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh mà chúng ta đã tiến hành suốt 14 tháng qua để đòi tôn trọng quyền lợi của mình, xóa bỏ các luật định giết người và diệt chủng được áp dụng chống lại Cuba và thực hiện với lời thề thiêng liêng mà nhân dân đã hứa với Tổ quốc…”.

Fidel cứ hùng hồn nói và dưới là cả một biển người với hàng trăm nghìn cánh tay giơ lên hưởng ứng. Buổi chiều tối hôm ấy, ông  nói chuyện với thanh niên, sinh viên tới gần 4 tiếng đồng hồ. Rồi ông kết thúc cùng với tiếng hô như nổ vang bầu trời La Habana của cả một biển người:

- Tổ quốc hay là chết!

- Xã hội chủ nghĩa hay là chết!

- Chúng ta nhất định thắng lợi!

Chúng tôi  cũng đang ngây ngất bởi sự hưng phấn của các bạn Cuba trong cuộc míttinh thì một điều kỳ diệu đúng như dự đoán. Chúng tôi được thông báo: Fidel sẽ từ sân vận động đến thẳng Lễ ký Hiệp định  hợp tác để gặp các bạn Việt Nam. Phải tới lúc này chúng tôi mới hiểu vì sao lễ ký kết dự định diễn ra vào lúc 18 giờ nhưng cho tới lúc này đã là 19 giờ kém 15 mà vẫn chưa được tiến hành. Cánh nhà báo chúng tôi một lần nữa kiểm tra lại đồ nghề máy quay, máy ghi âm, máy ảnh… và chợt giật mình khi tự nhận ra, trong lễ ký kết sang trọng này, duy nhất có cánh nhà báo chúng tôi là ăn mặc “lôm côm”, không complê – càvạt. Mấy ngày tới Cuba, đất trời thì nóng quá và bạn thì tốt quá, giản dị quá, cũng chẳng cần phải màu mè đỏm dáng làm gì. Nhưng bây giờ, khi mà Fidel – người mà chúng tôi chỉ ao ước được gặp một lần, sắp xuất hiện, vậy mà chúng tôi ai cũng chỉ thanh mảnh trong một chiếc áo cánh lạc lõng giữa chốn “cung đình”. Nhưng rồi sự áy náy, ân hận của chúng tôi đã qua đi rất nhanh trong không khí nhộn nhịp, mừng vui của cả ta, cả bạn khi chuẩn bị được đón Fidel. Đúng 21 giờ, một đoàn xe môtô phân khối lớn của An ninh Cuba vụt qua khu vực diễn ra lễ ký kết. Tiếp đến là ba chiếc xe con màu đen cũng vượt qua. Rồi, chỉ trong tích tắc, ba chiếc xe đen vòng trở lại. Và, từ một trong ba chiếc xe con màu đen kia, Fidel hiện ra trong bộ đồ màu ôliu quen thuộc. Đại úy an ninh Cuba Agitra, người có tên Việt Nam là Hàm Rồng, nói nhỏ với tôi: “Hai năm nay, Fidel luôn mặc bộ ôliu do Xí nghiệp May 10 của Việt Nam may tặng”. Fidel rất vui, Người ôm Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng trong vòng tay rất chặt và lần lượt đi bắt tay khắp mọi người trong Đoàn Việt  Nam. Vất vả lắm tôi mới “chui” được vào một vị trí bấm máy mà tôi cho là rất đẹp. Nhưng các sĩ quan an ninh của bạn cứ huých, đẩy tôi ra. Một sĩ quan cận vệ bảo vệ Fidel thấy tôi bướng đã giở ngón nghề… điểm huyệt nhẹ vào mạng sườn tôi. Người tôi cứng đờ. Cũng lúc ấy, tôi thấy nhà báo Ngô Bá Thành với nét mặt nhăn nhó, cà nhắc cà nhắc đi lại phía tôi, anh than phiền: “Mình “bị” tay an ninh bạn – anh chỉ về một sĩ quan an ninh Cuba cao to tới trên 2 mét nặng chừng tạ rưỡi – “chặt đẹp” một nhát, chắc đùi mình lên “bắp chuối” rồi ông ạ!”. Thì ra, tới lúc này tôi mới thấu hiểu các bạn đồng nghiệp của tôi – những sĩ quan cận vệ của Fidel là người như thế nào, bình thường trông họ “hiền khô” và thật thà như các anh “Hai Lúa” của vùng miệt vườn Nam Bộ ta.

Sau đó, Chủ tịch Fidel Castro và Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng đã rất vui chứng kiến Lễ ký các hiệp định hợp tác Việt Nam – Cuba trên ba phương diện. Một là Tổng công ty Lương thực miền Bắc bán cho Bạn Cuba 250.000 tấn gạo; hai là Tổng công ty Điện tử Hanel của Việt Nam trao tặng Bạn một dây truyền lắp ráp vô tuyến truyền hình. Cuối cùng là hiệp định thực hiện dự án hợp tác phát triển trồng lúa qui mô nhân dân và hộ gia đình tại Cuba.

Lễ ký đã diễn ra thật chóng vánh. Nhưng cuộc vui giữa Chủ tịch Fidel với Đoàn Việt Nam là vô bờ bến. Ai cũng muốn được chụp với Fidel một tấm ảnh bởi vì dù không ai bảo ai nhưng mọi người đều hiểu rằng Fidel đã bước sang tuổi 76 và được gặp lại Fidel là điều rất khó. Cánh nhà báo chúng tôi tranh thủ lúc Fidel đang vui đã kịp thời phỏng vấn Người vài câu.

Anh Văn Sinh, Đài Truyền  hình Việt Nam, hỏi:

- Xin Chủ tịch cho biết mối quan hệ Việt Nam – Cuba?

Fidel trả lời:

- Với Việt Nam thì Cuba có mối quan hệ hơn bất kỳ nước nào. Và hơn cả mối quan hệ mà người ta quen gọi là hữu nghị theo nghi thức. Đó chính là mối quan hệ thân thiết gia đình. Trong nhiều thời kỳ gian khó, chúng ta đã là anh em của nhau và giờ đây chúng ta cũng vẫn là anh em một nhà. Tôi xin nhấn mạnh rằng sẽ không có thế lực nào có thể đánh bại được hai nước Việt Nam và Cuba của chúng ta.

Nhà báo Đình Khải của Đài Tiếng nói Việt Nam hỏi:

- Xin Chủ tịch cho biết tình hình khôi phục ở Cuba sau cơn bão Misen?

Fidel cười hóm hỉnh, Người nói:

- Cuba chúng tôi đã nhiều kinh nghiệm về chống bão. Bởi vì ở Cuba có rất nhiều loại bão. Cơn bão lớn nhất và thường xuyên nhất mà chúng tôi thường gặp là cơn bão trong quan hệ với nước láng giềng – người Mỹ cũng giống như các bạn đã gặp trước đây. Nhưng không có cơn bão nào và thế lực nào có thể đè bẹp được Việt Nam và Cuba.

Lại là câu hỏi của nhà báo Văn Sinh của Đài Truyền hình Việt Nam:

- Xin Chủ tịch cho biết những thành tựu mà nhân dân Cuba đã đạt được trong nhiều năm qua?

Fidel Castro:

- Chúng tôi đã đưa đất nước ra khỏi vực thẳm của thời kỳ đặc biệt trong điều kiện bị bao vây cấm vận gắt gao. Nước Mỹ ngày càng đưa ra nhiều điều luật quái gở chống lại chúng tôi. Và… (Fidel cười) cũng không ai ngờ được rằng chúng tôi có thể chống cự lại được. Giờ đây đất nước chúng tôi mạnh hơn bất kỳ lúc nào. Bởi vì chúng tôi biết rằng lúc này chúng tôi cần phải làm gì. Tôi xin lấy ví dụ. Hiện nay Cuba có tới trên 60.000 bác sĩ và 250.000 giáo viên cùng nhiều huấn luyện viên thuộc đẳng cấp quốc tế. Nếu tất cả những người này sang làm việc tại California  nước Mỹ thì số tiền dịch vụ thu được không nhỏ hơn 200 tỉ USD một năm. Thế nhưng nền kinh tế của Cuba là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, tất cả các dịch vụ đều miễn phí và những thứ đó không tính vào thu nhập quốc dân. Nhưng nếu tính cả vào thì GDP của chúng tôi chắc chắn cao hơn bất cứ một nước tư bản chủ nghĩa nào tới 15 lần. Nhưng nếu đong đo tới từng xăngtimét giá trị tiền thì ở đất nước chúng tôi không thể tính được vì đó là chất lượng cuộc sống. Ở Cuba không có người chết đói. Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, và không có người già, con trẻ nào là không biết chữ và chất lượng giảng dạy ở các trường của chúng tôi hơn hẳn các nước tư bản. Đó chính là chất lượng của cuộc sống. Điều cuối cùng, tôi xin được nói với các bạn rằng, không có đất nước nào được như Cuba khi mà mọi người dân đều được miễn phí tất cả các dịch vụ thiết yếu của cuộc sống tuy rằng chúng tôi là một nước nghèo, kinh tế vô cùng khó khăn…

Cứ thế và cứ thế, thật khác với phong cách mạnh mẽ, quyết liệt khi đứng trước biển người, với cuộc phỏng vấn của chúng tôi,  Fidel lại rủ rỉ, trầm lắng và lần lượt trả lời hết tất cả các câu hỏi. Cuối cùng, Người phải miễn cưỡng từ biệt chúng tôi theo yêu cầu của Cơ quan An ninh Bạn và bước vào trò chuyện với Phó Thủ tướng Thường trực của ta thêm 2 giờ đồng hồ nữa tại phòng khách của Khách sạn Palco. Vị chi – theo cách nhẩm tính của tôi – Fidel đã nói chuyện trong một ngày mà tôi được mục sở thị đúng 7 giờ đồng hồ, tức là từ 5 giờ chiều tới 11 giờ đêm ngày 3 tháng 12. Quả thật, sức làm việc của một nguyên thủ quốc gia ở cái tuổi 76 thật đáng nể và phi thường, không phải mấy ai trên đời này có được.

Tuy nhiên, thưa bạn đọc kính mến, sẽ là thiếu sót nếu nói về con người kỳ bí và huyền thoại Fidel mà không kể tới 670 lần thoát hiểm bởi các vụ mưu sát của các thế lực thù địch trong và ngoài nước đối với Người. Về điều này, tôi đã được tận mắt chứng kiến các hiện vật, bằng chứng về các âm mưu, thủ đoạn, phương tiện để thực hiện các vụ mưu sát Fidel được trưng bày tại Bảo tàng Bộ Nội vụ Cuba. Ở bài viết này, người viết chỉ xin được kể một vụ cũ nhất được bắt đầu từ khi Nhà nước Cộng hòa Cuba vừa mới ra đời (1961) và một vụ mới nhất ở năm cuối cùng của thế kỷ XX (năm 2000).

Năm 1961, sau khi bọn phản cách mạng người Cuba được Mỹ giúp sức và chỉ đạo đổ bộ vào bãi biển Hiron bị thất bại, nhân cuộc gặp mặt biểu dương sức mạnh của quần chúng ở Quảng trường Cách mạng, trong khi đồng chí Fidel đang phát biểu và đồng chí Raun – Bộ trưởng Quốc phòng đứng bên cạnh, bọn phản động đã đặt súng bắn hỏa tiễn từ trên một nóc nhà gần đó, định bắn xuống nhằm hạ sát cả hai lãnh tụ của Nhà nước Cộng hòa Cuba non trẻ. Nhưng chúng đã bị An ninh Cuba phát hiện. Khi khám phá vụ mưu sát này, lực lượng An ninh Cuba đã lần ra được chiến dịch “mồi lửa” tiếp theo là tạo ra cuộc đánh lộn ở căn cứ quân sự Goantanamô để làm cớ đưa bọn phản động người Cuba ở nước ngoài về Cuba…

Mới đây nhất là việc An ninh Cuba phát hiện âm mưu ám sát Fidel khi Người đi dự Hội nghị Thượng đỉnh Liên Mỹ lần thứ 10 ngày 17-11-2000 tại Panama. Khi vừa xuống sân bay, Fidel đã gặp gỡ báo chí tố cáo ngay kế hoạch mưu sát và chỉ cho an ninh nước chủ nhà Panama biết nơi ở của tên chủ mưu là Louis Posada cùng với khối thuốc nổ 17 kg đã được đặt ở nơi ông tới nói chuyện với sinh viên…

* * *

Trước ngày sang Cuba tôi chỉ biết Cuba qua những trang sách và được gặp đôi lần một hai người bạn làm công tác văn hóa – báo chí ở Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam. Ấn tượng trong tôi là một Cuba rất xa xôi, gầy guộc trên một hòn đảo nhỏ và khó khăn muôn phần bởi sát nách một kẻ thù lớn khổng lồ và ba bề bốn bên cũng không ít những kẻ thù nhỏ và vừa. Nhưng đó là một Cuba hiên ngang và bất khuất, câu nói ấy tôi đã được nghe ở tất cả những người Việt Nam khi từ Cuba trở về. Nhưng Cuba hiên ngang như thế nào và đã phải ngụp lặn, vùng vẫy thế nào để thoát khỏi những mắt lưới cấm vận bằng thép của Mỹ suốt gần 5 thập kỷ qua thì đó là câu hỏi lớn của những người muốn được biết đến Cuba.

Nói về sự cấm vận và bao vây kinh tế của Mỹ đối với Cuba được bắt đầu từ lý do tư tưởng kể từ khi Hòn đảo tự do tuyên bố đi theo con đường XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba, đứng đầu là Chủ tịch Fidel Castro từ năm 1959. Sự “phong tỏa” đó bạn đọc nên hiểu thế này: Mỹ đã lập một hàng rào cấm nhập ngoại tệ, cấm mua bán, trao đổi với tất cả các loại hàng hóa từ Mỹ và kể cả các nước thân Mỹ đối với Cuba. Còn đối với các nhà tài phiệt, các nhà tư bản đầu tư vào Cuba sẽ bị phong tỏa các tài khoản và rất khó có “đất” làm ăn trên đất Mỹ. Đến ngay Giáo hoàng Jean Paul II khi  ông sang thăm Cuba năm 1998 cũng đã phải thốt lên: “Lệnh cấm vận là không thể chấp nhận được về mặt đạo lý. Lệnh cấm vận được so sánh với một trận đấu không cân sức bởi một bên là nghị viện, chính quyền, giới doanh nghiệp và nhóm chống Fidel ở Miami do Hiệp hội quốc gia Cuba – Mỹ đứng đầu và một bên là người dân Mỹ hiền lành, chất phác”.

Đã khốn khó là vậy nhưng các thế lực thù hận với Cuba vẫn không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn đê hèn nào để tiêu diệt Nhà nước Cuba bé nhỏ và tư tưởng cộng sản trong mỗi một người dân Cuba. Còn nhớ, cách đây vừa tròn 40 năm, khi Nhà nước Cộng hòa Cuba non trẻ vừa mới ra đời thì trong mọi nỗ lực nhằm lật đổ Fidel Castro, Mỹ đã thông qua kế hoạch điều 1.400 các phần tử Cuba lưu vong với đầy đủ các phương tiện vũ khí hiện đại của Mỹ đổ bộ vào Vịnh Con Lợn nhằm lật đổ Nhà nước Cộng hòa Cuba do Fidel lập nên. Kế hoạch này đã bị thất bại cho thấy sự hiểu biết sai lệch của các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ đối với Cuba và sự sai lệch đó vẫn tiếp diễn cho tới hôm nay. Nhìn lại sự kiện này, tôi thấy cứ đến dịp “Kỷ niệm chiến thắng Hirôn” hằng năm, báo chí Mỹ lại gióng một hồi chuông lên tiếng phân tích, mổ xẻ dưới nhiều góc độ và tựu trung lại đều đưa ra một kết luận đánh giá nguyên nhân của thất bại này là do Washington  không hiểu làm thế nào mà Đảng Cộng sản Cuba và Fidel Castro có thể tập hợp thành công tình cảm dân tộc cho cuộc cách mạng đối đầu một mất một còn với Mỹ. Phải nói rằng bên cạnh việc cấm vận, bao vây kinh tế thì Washington đã có hẳn một chính sách hậu thuẫn cho các tổ chức và cá nhân có tư tưởng chính trị đối lập với Nhà nước Cộng hòa Cuba để làm những cuộc phản kích trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, bạo lực,  kể cả khủng bố và ám sát để nhằm lật đổ Fidel và chính quyền Cộng sản ở Cuba. Tại bảo tàng của Bộ Nội vụ Cuba, tôi đã được chứng kiến tận mắt các bằng chứng về các âm mưu hoạt động này. Ví dụ chỉ với một nhóm người Cuba lưu vong tại Mỹ do Louis Posada chỉ huy và được CIA “đỡ đầu” đã làm những vụ động trời đối với Cuba. Chỉ riêng năm 1976, Louis Posada đã tiến hành 2 vụ khủng bố tàn khốc đối với Cuba. Một là, Louis Posada đã tổ chức làm nổ chiếc máy bay CUT-1201 của Hãng hàng không Cuba chở 75 hành khách trong đó có 25 vận động viên đội đấu kiếm đứng đầu thế giới vừa mới giành huy chương vàng từ Bacbađốt trở về Cuba. Hai là tổ chức vụ bắt cóc và giết hại hai cán bộ an ninh của Cuba đi công tác tại Áchentina. Riêng với đòn trừng phạt về  kinh tế, ngoài chính việc gia hạn với chính sách cấm vận của Mỹ, các thế lực thù địch đã đưa đủ các loại vi trùng gây bệnh vào Cuba. Vi trùng này bắt đầu từ lợn và sau đó xâm nhập sang tất cả gia súc. Vậy là Cuba phải mở một chiến dịch tiêu diệt tất cả những con lợn nằm trong khu vực lây bệnh. Năm 1979, chúng lại đưa tiếp một loại vi trùng làm quăn hết tất cả lá của cây thuốc lá – một loại nguyên liệu làm nên đặc sản nổi tiếng nhất thế giới: Xìgà Cuba. Sau “sự kiện sâu thuốc lá” thì tiếp đến sự kiện sâu làm hại mía, rồi sâu làm chết cá. Tất cả nguồn thu ngoại tệ chính của Cuba do cấm vận đã không chuyển được đồng hào cắc bạc nào vào kho bạc Nhà nước Cuba. Như vậy vẫn chưa thỏa lòng căm thù những người cộng sản, các thế lực thù địch đã mở chiến dịch tiêu diệt thẳng vào những người dân lành vô tội sống trong lòng xã hội Nhà nước Cộng hòa Cuba bằng một loại vi trùng sốt xuất huyết năm 1986. Đợt một của dịch sốt xuất huyết này đã làm 160 người dân trong tổng số 3.000 người nhiễm bệnh bị chết. Mới đây – năm 2001, chắc bạn đọc hẳn chưa quên sự kiện em bé Elian của Cuba mà cả Tổng thống Mỹ Bill Clinton lẫn Chính phủ Mỹ quyết tâm giành giật và định nuôi dưỡng trên đất Mỹ với lý do “nhân quyền” để bôi xấu Đảng, Nhà nước Cuba. Và, cũng vì danh dự và phẩm giá của người Cuba, cả nước Cuba một lần nữa lại đứng dậy với hàng chục cuộc biểu tình diễu hành của hàng triệu người đòi Mỹ phải trả bé Elian về lại Cuba. Cuối cùng em Elian đã về sống ở chính đất nước Cuba của em. Bài hát Pêkinhêôli – một bài hát ca ngợi một em bé Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ đã được cả đất nước Cuba hát trong các cuộc biểu tình đòi Mỹ trả bé Elian về nước. Bài hát này tôi lại được nghe ở một trường tiểu học mang tên Võ Thị Thắng của thủ đô La Habana. Trong bài hát, các em bé Cuba khẳng định các em chính là chủ nhân tương lai của đất nước sau này. Cũng nhân buổi tới thăm trường mang tên mình, chị Võ Thị Thắng – một thành viên trong Đoàn chính phủ ta thăm Cuba lần này đã làm một cuộc “thẩm vấn” các em học sinh Cuba về Bác Hồ, về Đảng Cộng sản Việt Nam, về đất nước, về con người và dân tộc Việt Nam. Nghe  các cháu ở độ tuổi 11, 12 của Cuba trả lời rành rẽ chuẩn xác về Bác Hồ của chúng ta sinh năm nào, mất năm nào, Đảng ta thành lập ngày nào, tháng nào. Rồi cả những bài hát nổi tiếng một thời đánh Mỹ của Việt Nam… vân vân và vân vân thì tôi thấy “nụ cười Võ Thị Thắng” lấp loáng những giọt nước mắt. Nhìn chị tôi hiểu chị quá sung sướng và quá xúc động. Tuy vậy tôi vẫn nhận ra sự áy náy băn khoăn của chị bởi một lý do chị không có nhiều tiền để tặng các cháu nhỏ bé tuyệt vời này của đất nước Cuba đầy ký bí và huyền thoại.

Thưa bạn đọc, không có điều kiện để đi được nhiều nơi trên đất nước Cuba nhưng tôi dám chắc với bạn đọc rằng nét đẹp truyền thống của người Cuba giản dị, mộc mạc đến hồn nhiên; quá tốt bụng, chân thành, thủy chung với bè bạn và bằng lòng với cuộc sống còn khó khăn trong một đất nước tốt đẹp về quan hệ giữa con người và con người thì tôi đã thấy ở tất cả những người Cuba mà tôi đã gặp dù là một sĩ quan an ninh, một người phục vụ hay một bác sĩ, một kỹ sư… Ở bài viết nhỏ này tôi xin được viện dẫn một cuộc gặp với nữ bác sĩ Đôra Galêgô, Viện phó của một bệnh viện đa khoa nằm giữa thủ đô La Habana. Khi thấy đoàn nhà báo nước ngoài, bà mau mắn dẫn chúng tôi đi thăm,  giới thiệu hết tất cả các khu khám, chữa bệnh, phòng ở, nhà ăn của bệnh viện với một thái độ cởi mở, săng sái và bằng một giọng nói đầy tự hào về thành quả y tế, tính ưu việt của chế độ đối với mọi người dân Cuba. Bà nói: “Với đất nước chúng tôi thì mọi người đều có quyền bình đẳng. Bệnh viện chúng tôi là bệnh viện được trang bị tất cả các phương tiện hiện đại và người được vào đây là tất cả công dân của đất nước Cuba, không phân biệt cán bộ hay nông dân. Mọi người cùng một chế độ; ăn uống, thuốc men theo bệnh, không theo cấp chức. Tất cả đều miễn phí. Ví dụ dù là một nước nghèo nhưng nếu một người dân cần phải thay tim phí tổn tới 25.000 đôla thì cũng vẫn được thay mà không phải trả Nhà nước dù là một pêsô. Bạn đã thấy đấy, ở 950 buồng bệnh của bệnh viện chúng tôi, buồng nào cũng có tivi, telephone, giường nệm, phòng vệ sinh, tủ đựng quần áo. Duy nhất chỉ không có tủ đựng đồ ăn vì bệnh viện của Nhà nước đã lo chu đáo  khâu ăn uống cho người bệnh rồi. Còn các phòng làm việc của bác sĩ, dù là bác sĩ trưởng của bệnh viện cũng không có tivi, xalông, giường nệm…  Với chúng tôi, tất cả vì người bệnh”.

Thấy bà say sưa quá về tính ưu việt của Nhà nước Cuba, tôi làm cuộc phỏng vấn ngắn với bà:

- Tôi xin được tò mò hỏi, mức lương Viện phó của bác sĩ là bao nhiêu?

Bác sĩ Đôra Galêgô  trả lời bà được 800 pêsô (tương đương 50 đôla). Đây là một trong những mức lương cao nhất ở Cuba hiện nay.

- Tác giả: Ngoài lương ra, bác sĩ có được bồi dưỡng thêm gì không?

- Bác sĩ Đôra Galêgô: Thực tế ngoài lương, tôi không được bồi dưỡng một khoản gì khác. Nhà nước đã phân cho tôi một căn nhà, hằng tháng tôi trả dần 10% lương, khi nào hết thì ngôi nhà đó là của tôi. Trong cuộc sống thì con tôi đi học không mất tiền. Tôi ốm đau vào viện không mất tiền. Tham gia các hoạt động thể thao văn hóa không mất tiền. Hơn nữa khẩu phần ăn Nhà nước bán cho tôi rất rẻ. Nếu nói về lương thì không thể so sánh với đồng lương của các nước khác được. Trong khi ở các nước khác người ta phải tiền thuê nhà, tiền điện, nước… rất cao. Giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao ở các nước chi phí rất đắt. Nếu đem so sánh sẽ là khập khiễng…

Tôi mạnh dạn hỏi bà:

- Xin được hỏi bác sĩ, bà và các bác sĩ trong bệnh viện có bao giờ nghĩ đến một lúc nào đó bệnh viện này sẽ chuyển sang theo cơ chế thị trường, tức là người bệnh phải trả tiền chữa bệnh?

Bác sĩ Viện phó Đôra Galêgô tỏ vẻ khó chịu. Bà lắc đầu, nói ngay:

- Tôi không tin có chuyện đó. Đặc trưng cơ bản nhất của chế độ cách mạng của chúng tôi là đảm bảo quyền lợi của người dân được khám, chữa bệnh miễn phí; được đào tạo giáo dục, vui chơi… miễn phí. Đấy là nguyên tắc bất di bất dịch của Cách mạng Cuba. Đó chính là tính ưu việt của Cách mạng Cuba… mà không phải ở các nước khác có được… Vậy đó, phẩm chất, lòng tin của mỗi một công dân sống trong Nhà nước Cộng hòa Cuba là thế. Và như vậy thì thử hỏi liệu có khó khăn nào, gian khổ nào và sự hy sinh nào mà người dân Cuba không thể vượt qua để bảo vệ hòn đảo độc lập và tự do hơn bất cứ một hòn đảo nào dù có giàu sang sung sướng đến bao nhiêu…(?)

Tuy vậy, là một người yêu quí và kính trọng cái phẩm giá, nhân cách có một không hai của mỗi người dân của một đất nước, một dân tộc anh hùng như thế này, trong những ngày đi trên đất Cuba tôi cứ thấy tiêng tiếc một điều giá như trên Trái Đất này đừng có sự hận thù và con người là bạn của nhau thì những người dân lành tuyệt diệu kia của Cuba sẽ sung sướng và hạnh phúc biết bao…

Cuối cùng, sẽ là thiếu sót ở bài viết này nếu nói về Cuba người viết không điểm đôi nét về tình hình kinh tế Cuba qua các bước thăng trầm và có giai đoạn tưởng đã ở ngõ cụt của con đường hầm không lối ra. Ấy là thời điểm khi Liên Xô tan rã vào đầu những năm 1990. Ngày ấy, chỉ với riêng khoản xăng dầu do Liên Xô viện trợ đã bị cắt giảm tới 75%. Vì thế nguồn năng lượng nặng tự khai thác chỉ đủ tàm tạm cung ứng cho điện dân dụng, y tế, trường học. Còn về phương tiện đi lại thì gần như cả nước Cuba phải đi… bộ. Còn nói về sự thiệt hại do lệnh cấm vận và bao vây kinh tế của Mỹ trong thời gian qua là khoảng 20 tỉ đôla, tức là gần gấp hai số nợ nước ngoài của Cuba. Như vậy, tính ra con số đó tương đương với gần 500 triệu đôla/năm; 260 triệu đôla thiệt hại do mua bán ngoại tê, 200 triệu đôla do chênh lệch giá nhập khẩu, 150 triệu đôla chênh lệch để tiếp cận thị trường vốn, 130 triệu đôla để vận chuyển hàng và 55 triệu đôla do không đánh thuế được hàng xuất khẩu. Tôi liệt kê một vài số liệu ra đây để bạn đọc hiểu sự cấm vận và phong tỏa kinh tế của Mỹ đã làm đất nước Cuba và mỗi người dân Cuba phải khốn khó thế nào khi một đất nước nhỏ bé chỉ có nền nông nghiệp làm chính với số dân nhỉnh hơn một chục triệu người…

Nhưng rồi đứng trước “Tổ quốc hay  là chết!”, “Chủ nghĩa xã hội hay là chết!”, Cuba đã phải vật mình đứng dậy và thi hành nhiều biện pháp cải cách cách mạng cấp thiết để đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng. Bên cạnh đó, những người bạn của mình là Trung Quốc với cuộc cải cách kinh tế và Việt Nam với sự đổi mới toàn diện nền kinh tế bước đầu đã thu được những thành quả tốt đẹp… đã góp phần tích cực để lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cuba nhìn nhận và điều chỉnh chiến lược nền kinh tế đất nước. Bắt đầu từ năm 1993, Cuba đã cho hợp pháp hóa quyền sở hữu và sử dụng ngoại tệ trong các cơ quan Nhà nước và trong nhân dân; ban hành luật đầu tư nước ngoài, cho tư nhân làm chủ một số ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; cải cách cơ cấu nông nghiệp theo hướng phi tập trung hóa; mở chợ nông dân tự do và chợ tự do hàng thủ công mỹ nghệ; cho phép các công ty lớn của Nhà nước được tự cân đối ngoại tệ và ngoại thương trực tiếp; cắt giảm trợ cấp và bù lỗ cho các cơ quan, xí nghiệp quốc doanh; giảm biên chế các cơ quan Đảng và Nhà nước; tăng giá hàng hóa không thuộc nhu yếu phẩm; cắt giảm phát hành tiền và từng bước lành mạnh hoá nền tài chính… Với những biện pháp tích cực ấy, từ năm 1995 kinh tế Cuba đã thoát ra khỏi thời điểm khó khăn nhất và dần dần được phục hồi. Năm 2000 thâm hụt ngân sách chỉ còn dưới 3% GDP, tức là khoảng 750 triệu pêsô so với 5 tỉ pêsô năm 1993; xuất khẩu tăng 12%, nhập khẩu tăng 14%, trao đổi thương mại đạt khoảng 6 tỉ đôla; ngành mía đường tiếp tục đà phục hồi, đạt sản lượng hơn 4 triệu tấn đường; ngành du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đạt mức tăng trưởng hằng năm khoảng 15-20%, mang lại thu nhập khoảng 2 tỉ đôla và 60% hàng hóa phục vụ cho du lịch được sản xuất trong nước. Cuba cũng đã trở  thành một quốc gia mạnh về sản xuất thuốc chữa bệnh. Hiện nay, Cuba chỉ thiếu gần 100 loại thuốc trong tổng số 900 loại thuốc cần cho chữa bệnh. Công nghiệp khai thác dầu mỏ được chú trọng và hằng năm đã khai thác được 4 triệu tấn dầu, đáp ứng được 60% nhiên liệu cho ngành sản xuất điện.

Tóm lại, đất nước Cuba đã có nhiều đổi mới và chúng tôi đành phải chia tay với Cuba vào những ngày cuối năm của năm đầu thế kỷ mới trong một không khí ấm áp dịu ngọt của đất trời và nồng ấm tình đồng chí, tình anh em đã từng chia ngọt sẻ bùi tới gần 5 thập kỷ. Tôi nhớ lời một bài hát của Việt Nam “Anh ở đầu sông em cuối sông…”, còn với Việt Nam – Cuba, hai người anh em cách nhau những nửa vòng Trái Đất. Nhưng dù Trái Đất có ngả nghiêng hay cuồng quay bao nhiêu đi chăng nữa thì Việt Nam – Cuba mãi mãi vẫn là anh em ruột thịt, là con một nhà và cả hai đều xứng đáng, đều tự hào về Cuba, về Việt Nam của nhau…


II – HAI CUỘC ĐỐI THOẠI THẲNG THẮN, CỞI MỞ VÀ CHÂN THÀNH TRÊN ĐẤT MỸ

CUỘC ĐỐI THOẠI THỨ NHẤT

Trong chương trình thăm và làm việc của Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì ngày thứ hai vào lúc 18 giờ 20 phút ngày 10-12 sẽ có cuộc gặp mặt với các giáo sư và sinh viên Trường đại học Johns Hopkins – một trường đại học nổi tiếng đã có tới 8 giáo sư đoạt giải Nôben trên các lĩnh vực khoa học và cũng là trường đại học có số sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam nhiều nhất trong các trường đại học của Hoa Kỳ. Là những người được đi tháp tùng Đoàn cán bộ cao cấp nhất đầu tiên của Chính phủ ta chính thức thăm Hoa Kỳ theo lời mời của Chính phủ Hoa Kỳ, với cuộc đối thoại này, chúng tôi thấy lo lo, bởi không hiểu tiến trình của cái “sự” đối thoại sẽ diễn biến tới đâu và tác dụng cũng như ảnh hưởng của nó sẽ khôn lường hiểu theo cả hai chiều lợi và hại. Cái tâm trạng ấy không chỉ có ở cánh nhà báo, nhà văn chúng tôi mà tôi còn cảm nhận được ở cả các nhà ngoại giao, các chuyên viên cao cấp Việt Nam trên các lĩnh vực đối ngoại, văn hóa, kinh tế, chính trị… và, ở cả các nhân vật “VIP” là thành viên Chính phủ ta đi theo Đoàn, vì ai cũng hiểu khi đã “mang chuông đi đánh xứ người” của một nước mới đây đánh thắng người ta và bây giờ muốn xóa bỏ hận thù, muốn hòa bình hợp tác hữu nghị với người ta và người ta lại là một nước lớn, siêu cường. Có lẽ cũng chính vì thế mà chúng tôi, không ai bảo ai đều “tình cờ” đến trước Trường đại học Johns Hopkins để xem không khí “họ” chuẩn bị đón tiếp “sếp” của mình ra sao. Cái tâm trạng ấy càng nặng nề hơn khi khách đã lũ lượt kéo vào hội trường.  Họ lặng lẽ, trầm lặng tìm vị trí ngồi. Theo chương trình, Phó Thủ tướng của ta sẽ bắt đầu “vào cuộc” vào lúc 18 giờ 20 phút. Nhưng tới 19 giờ… rồi tới 19 giờ 10 phút, vẫn chưa thấy Phó Thủ tướng xuất hiện. Chúng tôi nháo nhác nhìn nhau khi thấy lác đác tốp năm tốp ba các vị khách Mỹ đứng lên đi ra ngoài. Mãi tới 19 giờ 25 phút, chúng tôi thấy Phó Thủ tướng của ta xuất hiện. Ông giơ hai tay chào khách và bằng giọng nói trầm, truyền cảm, ông xin lỗi vì đã để mọi người phải chờ với lý do bà Rice, Cố vấn An ninh quốc gia Hoa Kỳ tiếp ông “kỹ” quá và cuộc trao đổi trên rất nhiều phương diện giữa hai nhà chính khách của hai nước có một số quan điểm bất đồng diễn ra quá dự định tới hơn một giờ đồng hồ.

Sau lời chào xã giao và cám ơn Ban giám đốc Trường đại học Johns Hopkins đã tạo điều kiện cho ông – Một quan chức Chính phủ Việt Nam  được nói chuyện với các giáo sư và lớp trẻ sinh viên của một trường đại học nổi tiếng. Rồi ông vào đề: “Đã có một thời gian khá dài ở Hoa Kỳ, khi nói đến Việt Nam, người ta thường chỉ nghĩ đến một cuộc chiến tranh, một cuộc chiến tranh hoàn toàn không đáng có, với những kỷ niệm đau buồn. Ngày nay, người ta đã nói và nghĩ đến Việt Nam không phải chỉ là những hồi ức của một cuộc chiến tranh, mà còn là một đất nước đầy tiềm năng, một dân tộc cần cù và sáng tạo, một nền văn hóa rất riêng của người Việt Nam.

Việt Nam là một dân tộc có trên 4 nghìn năm văn hiến. Dân tộc chúng tôi đã bị các thế lực bên ngoài thống trị gần trọn thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, nhưng dân tộc chúng tôi vẫn tồn tại và không bị đồng hóa. Sau khi giành được độc lập lần thứ nhất vào  năm 939, Việt Nam lại phải tiến hành 16 cuộc kháng chiến chống lực lượng thống trị  của nước ngoài, và trong thế kỷ XX lại phải buộc lòng cầm súng chiến đấu chống xâm lược của nước ngoài để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước; để tồn tại và phát triển. Chúng tôi hy vọng đây là những cuộc chiến đấu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam…”.

Nói tới đó tôi thấy mặt ông vẫn lạnh, đầu ngẩng cao và giọng ông không to không nhỏ nhưng rành rẽ, khúc chiết. Tôi cảm nhận một bầu không khí nặng nề cả ở phía ta và cả ở phía khán thính giả người Mỹ khi nghe ông bày tỏ lòng cảm thông chia sẻ với những mất mát của nhân dân Mỹ trong sự kiện khủng bố 11-9  thì ông lại hùng hồn lên án cuộc chiến tranh của Mỹ đối với Việt Nam. Ông nói: “Chính quyền Hoa Kỳ đã gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam với nhiều hậu quả nặng nề cho cả hai dân tộc, hai đất nước, trong đó Việt Nam phải gánh chịu những hậu quả lâu dài hơn và nặng nề hơn gấp nhiều lần. Hơn 3 triệu người Việt Nam bị chết trong cuộc chiến tranh đẫm máu này, trong đó có hơn 300 nghìn người còn chưa tìm được hài cốt và chắc chắn khó có điều kiện để tìm lại được tất cả để đưa họ về với gia đình, quê hương, mặc dù họ đã hy sinh ngay trên mảnh đất Việt Nam  thân yêu của mình. Hàng triệu người Việt Nam khác bị thương tật, đến nay, nhiều người trong số đó vẫn đang phải chịu hậu quả nặng nề của thương tích cũ, hoặc đang chết dần chết mòn vì bị nhiễm chất độc da cam mà lính Mỹ đã trút xuống Việt Nam, mặc dù chiến tranh đã qua đi hơn một phần tư thế kỷ. Đó là chưa kể những tàn phá hết sức nặng nề đối với nền kinh tế Việt Nam, đẩy lùi sự phát triển của Việt Nam hàng chục năm so với các nước láng giềng khu vực. Bài học lịch sử là rõ ràng. Chúng tôi tin là các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ có những quyết định phù hợp, đúng đắn, sáng suốt để cùng nhau xây dựng mối quan hệ mới tốt đẹp, hữu nghị, bền vững giữa Việt Nam – Hoa Kỳ”…

Nhưng rồi chúng tôi đã thở phào nhẹ nhõm khi Phó Thủ tướng của ta chuyển giọng và ông nhìn xuống khán giả người Mỹ một cách thân thiện, chân tình. Ông thay mặt Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam cám ơn những người bạn Mỹ tốt của nhân dân Việt Nam đã làm hết sức mình trong việc thúc đẩy để chính quyền Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Bước đầu  bài nói chuyện của ông được kết thúc trong tiếng vỗ tay vừa phải, không nặng, không nhẹ của phía những người khách Mỹ. Chúng tôi hiểu những giờ phút quan trọng của lịch sử sẽ là ở phần đối thoại “tay bo” giữa Phó Thủ tướng ta với những người Mỹ  sắp được châm ngòi khai hỏa ngay giữa lòng thủ đô Washington của nước Mỹ…

Bắt đầu cuộc đối thoại là một người Mỹ, giáo sư của chính Trường đại học Johns Hopkins. Bằng giọng nói hùng biện vốn có của người Mỹ, ông nói oang oang: “Thưa ngài Phó Thủ tướng, như ngài nói Việt Nam đã đi vào một kỷ nguyên mới trong quan hệ đối ngoại của mình với việc thông qua Hiệp định Thương mại song phương với Mỹ, với việc Việt  Nam gia nhập ASEAN, APEC và các tổ chức khác. Vậy theo quan điểm của Ngài, trong thời đại hiện nay đâu là mối quan ngại về an ninh  lớn nhất đối với Việt Nam?”.

Khi vị giáo sư hùng biện kia chưa kịp ngồi xuống thì một cái đầu hói của một người Á Đông độ tuổi trên 50, đứng lên. Tôi hỏi người ngồi bên cạnh tôi – ông Giang Thanh Trần, giáo sư, tiến sĩ người Việt đã sống ở Mỹ 40 năm nay – rằng có phải “vị kia” là người Việt Nam không? Giáo sư Giang gật đầu và bảo tôi: “Ông ấy cũng là một giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Mỹ”. Mặc dù là người gốc Việt nhưng vị giáo sư nọ đã không dùng tiếng mẹ đẻ mà dùng tiếng Anh, ông hỏi Phó Thủ tướng ta: “Thưa ngài Phó Thủ tướng, hiện tại trong bối cảnh Việt Nam vẫn là do một Đảng – tức là Đảng CSVN lãnh đạo thì Ngài là một trong số hiếm hoi các nhà lãnh đạo trẻ có kiến thức, có năng lực và có kỹ năng. Tôi muốn hỏi là không biết Ngài có tự tin như thế hay không và,  thứ hai nữa là, Ngài có tin các nhà đầu tư Mỹ và các nước khác có đổ vào Việt Nam trong bối cảnh Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã được thông qua hay không? Chứ không giống như tình trạng cách đây mươi, mười lăm năm các nhà đầu tư dồn dập đổ vào Việt Nam rồi sau đó lại phải rút vốn ra?”.

Tới câu hỏi thứ hai này, tôi thấy cả hội trường bắt đầu có không khí của một đấu trường. Mọi người đều  cựa quậy. Bắt đầu có tiếng xì xào to, nhỏ. Đâu đó có tiếng cười đắc chí. Rồi tiếp đó là rất nhiều tiếng cười rộ lên như pháo nổ khi một người Mỹ ngồi ở gần ghế cuối đứng lên nói bằng một giọng châm biếm, hài hước, rằng: “Tôi là Stivânmo, là một trong những học giả viết khá nhiều sách nghiên cứu về Việt Nam trong đó có cuốn: “Tại sao Việt Nam xâm lược Campuchia”.  Tôi cũng  dạy rất nhiều sinh viên Đông Nam Á,  Đông Dương và một số sinh viên Việt Nam, trong đó có con của ngài Ngoại trưởng Việt Nam và nói chung quan hệ của tôi với sinh viên Việt Nam rất tốt. Nhưng rất không may là nhiều lần tôi cố gắng vào Việt Nam nhưng đều bị Chính phủ Việt Nam từ chối, mặc dù cũng có sự giúp đỡ của ngài đại sứ cũ của Việt Nam tại đây. Vậy thì trong bối cảnh mà như Ngài tuyên bố là tất cả mọi người hãy đến Việt Nam để tận mắt chứng kiến những thay đổi của Việt Nam, bởi vì “trăm nghe không bằng một thấy”, thì không biết ở đây Ngài có thể tuyên bố với chúng tôi rằng Ngài sẽ nói với Cơ quan Công an của  Việt Nam là sẽ bỏ tên tôi ra khỏi sổ đen để tôi có thể có điều kiện đến Việt Nam hay không?”.

Cuối cùng là câu hỏi thứ tư khi tiếng cười rầm rộ bởi câu hỏi thứ ba kia chưa dứt: “Trong phát biểu của Ngài, Ngài có nói rằng Việt Nam muốn thúc đẩy dân chủ, thúc đẩy tự do và Việt Nam trở thành một đối tác tin cậy của tất cả các nước và Việt Nam cũng tôn trọng nhân quyền dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Vậy, trong bối cảnh Hiệp định Thương mại Việt Nam và Mỹ đã được ký thì câu hỏi lớn nhất bây giờ là tuân thủ Hiệp định này như thế nào. Tôi muốn biết Ngài bình luận gì về việc thực thi và tuân thủ Hiệp định này như thế nào trong khi Việt Nam lại đang ở trong danh sách là một nước vi phạm nhân quyền?”.

Tới câu hỏi thứ tư này thì hội trường của Trường đại học John Hopkins đã thật sự bùng nổ bởi tiếng cười của những vị khách cứ kéo dài ra mãi. Tôi nhìn lên bàn chủ tọa. Vị giáo sư Mỹ đại diện cho Ban giám hiệu Trường đại học John Hopkins đưa hai tay chống cằm, nét mặt lộ vẻ lo lắng. Còn vị đại sứ của Việt Nam tại Mỹ – ông Nguyễn Tâm Chiến thì ngồi lặng. Tôi nhìn Phó Thủ tướng. Ông vẫn chăm chú lắng nghe người hỏi và ông lướt mắt nhìn những vị khách ngồi dưới đang hoan hỉ cười và vỗ tay. Khi nghe hết câu hỏi, tôi thấy ông mỉm cười nhưng nét mặt đã không còn lành lạnh của lúc ban đầu. Mặt ông đỏ dần. Rồi ông bước tới  đứng trước micrô. Giọng ông cứ to dần lên. Ông nói: “Trước hết, tôi rất cám ơn các bạn đã quan tâm đến Việt Nam và có nhiều câu hỏi đối với tôi. Về câu hỏi thứ nhất, tôi xin trả lời: Với Việt Nam chúng tôi hiện nay, điều đáng lo ngại nhất đe dọa đến an ninh Việt Nam là sự đói nghèo. Thứ hai là sự can thiệp từ bên ngoài vào nội bộ của chúng tôi, không tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của chúng tôi. Mọi bất đồng chúng tôi chủ trương đối thoại trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau, và trên tinh thần xây dựng một nền hòa bình chung cho nhân loại.

Còn câu hỏi thứ hai thì đúng là đất nước chúng tôi có một Đảng lãnh đạo. Nhưng Đảng CSVN không có mục tiêu nào khác là mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Vì mục tiêu này mà dân tộc Việt Nam đã buộc phải cầm súng chiến đấu suốt cả thế kỷ XX, hết đế quốc Pháp tới Nhật, tới Mỹ – buộc lòng chúng tôi phải cầm súng chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN. Và trong những cuộc chiến đấu đó thì thế hệ trẻ Việt Nam là rường cột của đất nước. Còn đối với tôi, cũng xin nói với các bạn là tôi hiện nay, với tuổi của tôi đã lớn hơn 86% dân số Việt Nam – Tôi nghĩ tôi không còn trẻ nữa, thưa các bạn!

Về câu hỏi thứ ba, tôi xin trả lời thế này: Việt Nam chịu rất nhiều mất mát và đau thương do chiến tranh xâm lược của các cường quốc nước ngoài. Hơn ai hết, Việt Nam mong muốn có hòa bình để sống trong tự do và độc lập. Nhưng trước tình cảnh Khơme đỏ tàn sát dân tộc Việt Nam, đã có hàng nghìn người dân vô tội của chúng tôi ở biên giới Tây – Nam  bị giết hại và hơn thế Khơme đỏ đã rắp tâm thực hiện diệt chủng đối với chính dân tộc Campuchia của họ. Trong tình thế ấy, buộc chúng tôi phải tự vệ chính đáng và giúp nhân dân Campuchia đánh đuổi bọn Pôn Pốt, xóa bỏ bọn Pôn Pốt để dân tộc Campuchia được hồi sinh như ngày nay. Tôi cho đó là nghĩa cử cao đẹp của Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.

Còn về việc ngài muốn sang Việt Nam, tôi  nói ngay rằng, tôi có thể cấp ngay hộ chiếu cho ngài. Tất nhiên là với một điều kiện là ngài không làm gì chống đối Nhà nước Việt Nam của chúng tôi”.

Nói rồi ông cười. Tới lúc này hội trường như bị vỡ tung bởi những tiếng cười. Và cũng thật tự nhiên, hàng loạt tràng vỗ tay  cứ thế kéo dài. Đợi cho tiếng vỗ tay thưa dần, Phó Thủ tướng mới thong thả nói tiếp: “Còn câu hỏi thứ tư, tôi có thể trả lời ngay với các bạn là  Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã có hiệu lực từ chiều nay, coi như đã hoàn tất quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, đưa mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ sang một giai đoạn mới, nhất là hợp tác trên lĩnh vực kinh tế – thương mại. Việt Nam hy vọng rằng chúng tôi sẽ thực hiện nghiêm túc những cam kết mà chúng tôi đã ký trong Hiệp định. Đồng thời chúng tôi cũng yêu cầu phía Hoa Kỳ làm như thế. Mới đây, khi gặp Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ và Ngài Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống, tôi đã nói rằng Hiệp định giữa hai nước vừa ký kết thì Hoa Kỳ đã đơn phương vi phạm là:  Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngân sách chi tiêu về nông nghiệp năm 2002 trong đó có điều luật là cấm nhập cá basa và cá tra của Việt Nam vào Hoa Kỳ. Nếu điều luật này được thực hiện sẽ gây khó khăn cho hàng triệu người dân nghèo làm nghề nuôi cá tra, cá basa ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam – là nơi thường xuyên bị lũ lụt diễn ra. Phía Việt Nam cam kết thực hiện đúng những cam kết của mình. Còn về vấn đề nhân quyền, chúng tôi đã chiến đấu để thực hiện quyền cơ bản nhất của con người là được sống trong độc lập, tự do, nhân phẩm con người được tôn trọng và được quyền quyết định vận mệnh của mình. Còn những bất đồng, và những cách hiểu khác nhau về nhân quyền, chúng tôi chủ trương đối thoại, nhưng phải trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Mỗi nước có hoàn cảnh khác nhau, lịch sử khác nhau có điều kiện văn hóa cụ thể khác nhau, không thể nào có một quốc gia lại áp đặt một đạo luật cho một quốc gia khác – Tôi cho đó là sự vi phạm nhân quyền nặng nề nhất và trắng trợn nhất. Việt Nam chúng tôi đúng là có những chuyện này chuyện nọ như mọi quốc gia khác và chúng tôi sẵn sàng đối thoại về những vấn đề đó. Cần hiểu rằng việc phấn đấu để thực hiện đầy đủ nhân quyền và việc vi phạm nhân quyền là hai việc khác nhau. Tôi rất mong các bạn chia sẻ với đất nước chúng tôi, dân tộc chúng tôi. Cũng xin nhắc lại với các bạn rằng Ủy ban nhân quyền của Liên Hiệp Quốc vừa rồi đã không bầu Hoa Kỳ mà bầu Việt Nam vào Ủy ban nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Và tôi vừa nói với bà Cố vấn An ninh của Tổng thống khi bà nói rằng Việt Nam nên để cho mọi người tự do thì tôi nói rằng tự do theo kiểu Bin Laden là không được, cả nhân loại đều lên án”…

Phó Thủ tướng mới nói tới đó thì cả người Mỹ lẫn người Việt trong hội trường đều đứng bật dậy vỗ tay thật lâu thật dài. Họ đều hiểu với cương vị của ông khi sang đất Mỹ, ông còn quá nhiều công việc phải làm. Vì thế mà họ cứ đứng vỗ tay để chia tay với ông trong một tình cảm đầy hào hứng và thân thiện mặc dù không có lời chia tay kết thúc…

CUỘC ĐỐI THOẠI THỨ HAI

Sau bốn ngày dồn dập với một núi công việc ở Washington và New York, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng cùng Đoàn cao cấp của Chính phủ ta bay sang San Francisco, một thành phố của bang California mà cả Mỹ cả ta đều gọi là “Bang Việt Nam” bởi số người Việt Nam sinh sống ở đây lên tới 500.000 người. Một trong những công việc chính của Phó Thủ tướng Thường trực là có buổi gặp mặt thân mật và có đối thoại trực tiếp với bà con người Việt ta sinh sống ở bang California ngay ngày đầu tiên khi Đoàn tới San Francisco. Sự kiện trọng đại này đã được cả phía Mỹ và phía ta thông báo cho bà con người Việt ở Mỹ từ trước đó cả tháng. Vì thế, khi Đoàn vừa về tới khách sạn, chúng tôi đã nhặt được ở cửa ra vào mỗi phòng chúng tôi ở một mảnh giấy của An ninh Mỹ gửi với nội dung:”Chào các bạn Việt Nam, chúng tôi buộc phải thông báo với các bạn rằng có một số phần tử quá khích trong cộng đồng người Việt ở đây sẽ gây rối và tổ chức biểu tình phản đối sự có mặt của các bạn trên đất Mỹ. Chúng tôi lấy làm tiếc về  việc này vì luật pháp Hoa Kỳ cho phép thế. Tuy vậy, bằng khả năng của mình, chúng tôi sẽ cố gắng bảo vệ các bạn an toàn. Chúng tôi vẫn mong các bạn thận trọng, không đi riêng lẻ để đề phòng khủng bố đe dọa, hành  hung và thậm chí bị bắt cóc… Cần thiết, bạn gọi về số máy của cảnh sát San Francisco số…”.

Có lẽ quá “thuộc bài” của  người Mỹ: ở đâu và lúc nào người Mỹ cũng muốn phô trương tiền bạc, sức mạnh và hay quan trọng hoá vấn đề nên Phó Thủ tướng quyết định mọi tiến trình làm việc của ông cũng như của Đoàn vẫn triển khai bình thường. Đặc biệt là cuộc tiếp xúc thân mật với bà con người Việt ta ở Mỹ vẫn phải được thực hiện đúng như thông báo; kể cả về ngày, giờ, địa điểm cũng không thay đổi. Và đúng 16 giờ ngày 12 tháng 12, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cùng với ba Bộ trưởng: Vũ Khoan, Bộ trưởng Bộ Thương mại; Trần Xuân Giá, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Nguyễn Mạnh Kiểm, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cùng đoàn tuỳ tùng có mặt đầy đủ tại hội trường của khách sạn Đoàn ở – Khách sạn Marriot Hotel (thành phố San Francisco) để gặp mặt bà con Việt kiều từ các quận, các thành phố của bang California đến. Việc đầu tiên khi Phó Thủ tướng bước vào hội trường, với nét mặt vui vẻ, hồ hởi, là ông đến bắt tay lần lượt từng bà con Việt kiều. Đã không ít người nhận ông là người quen, là đồng hương và nhắc lại một số kỷ niệm về những lần được gặp ông mỗi khi về Việt Nam. Không khí giữa những người xa Tổ quốc, xa đất nước với Phó Thủ tướng  của ta và các vị khách cùng đi trong Đoàn thật nồng nhiệt, ấm áp như những người con trong cùng một nhà lâu ngày mới có cuộc đoàn viên. Cuộc giao tiếp ban đầu như thế là tốt đẹp. Nhưng khi Phó Thủ tướng của ta bắt đầu nói chuyện thì thật bất ngờ, có hai người đàn bà người Việt độ tuổi trên dưới 50 xuất hiện ở cửa phòng họp. Họ đồng thanh hô lớn:”Đả đảo Cộng sản”. Ngay trong chớp mắt, chúng tôi thấy họ bị một cú đánh ngã sấp của nữ sĩ quan An ninh Mỹ xinh đẹp Montgomery mà tôi không biết cô từ vị trí nào nhào tới. Rồi cũng chỉ là một tích tắc, tôi nghe thấy hai tiếng rốp… rốp… thì đã thấy cô và một đồng nghiệp của cô khoá gọn hai kẻ gây rối trong còng số 8 bóng đen nước thép. Ngay lập tức họ bị lực lượng An ninh dày đặc của Mỹ áp tải ra ngoài. Mới đây, khi về nước, tôi được nghe thông báo của Bộ Ngoại giao: Hai kẻ gây rối cuộc tiếp xúc của Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng với bà con người Việt ta ở Mỹ hôm đó đã bị Toà án Mỹ xét xử vào ngày 19 tháng 12 vừa rồi, với tội danh “gây rối và khủng bố”.

Trở lại không khí ở hội trường, tôi nhận thấy Phó Thủ tướng của ta, ba vị Bộ trưởng và cả ông Đại sứ, ông Tham tán ngồi trên bàn chủ tọa, mặt vẫn bình thản, coi như không có việc gì xảy ra. Còn bà con người Việt không ai bỏ ra về. Bà con ngồi trật tự và nóng lòng chờ đợi Phó Thủ tướng nói chuyện.

Có lẽ là người hoạt động thực tiễn từng trải và là nhà hoạt động chính trị được giao trọng trách lớn rất sớm ở nhiều cương vị khác nhau, nên ông nói chuyện về tình hình chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội của đất nước với một lối nói thẳng thắn, sòng phẳng, đề cập thẳng vào những vấn đề nhạy cảm nhất mà bà con Việt kiều cần thông tin nên rất hấp dẫn người nghe. Chính vì vậy nên mạch nói của ông luôn bị ngắt quãng bởi những đợt vỗ tay kéo dài của bà con Việt kiều. Khi nói đến vấn đề nhân quyền ở Mỹ và ở Việt Nam, ông dẫn chứng việc bảo vệ an ninh cho Tổng thống Mỹ Bill Clinton khi đến Việt Nam “xuôi chèo mát mái” và êm thấm bao nhiêu thì khi đến Mỹ, ông thấy trật tự an ninh của xã hội Mỹ quá phức tạp, căng thẳng; tính mạng, cuộc sống của nhân dân Mỹ và khách quốc tế luôn luôn bị đe dọa và ông liên hệ tới việc gây rối vừa mới xảy ra chắc rằng cả chủ và khách đều không hài lòng. Ông bảo:“Cộng sản làm gì xấu mà phải đả đảo. Mục đích cao nhất của người Cộng sản là chỉ muốn dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh…”. Tiếp đó ông phân tích những việc đã làm được và những việc mà toàn Đảng, toàn dân phải phấn đấu để đạt được mục tiêu của người Cộng sản Việt Nam đề ra trong 10 năm tới. Rồi ông nhìn đồng hồ. Hình như ông nói đã chiếm mất một nửa thời gian của cuộc gặp mặt. Ông yêu cầu bà con Việt kiều phát biểu.

Ông Nguyễn Chánh Khê ở 1808 Forn don Ave Los Altos, nói: “Tôi rất xúc động vì thắng lợi của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ vừa được Quốc hội Mỹ và Quốc hội Việt Nam thông qua và nó đã được thực hiện. Cách đây hơn một tuần khi Nhà nước Việt Nam công bố Quốc hội Việt Nam đã thông qua Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, 6 giờ sáng tôi đi tập thể dục thấy đài của thành phố San Francisco phát bản tin này. Sau đó tất cả các đài lớn, các báo lớn của Mỹ đều đọc và đăng tin này. Đồng thời nhấn mạnh Việt Nam là nước thứ hai ở  Á Châu phát triển kinh tế mạnh nhất, đứng sau Trung Quốc. Thí dụ vấn đề cá basa, các đài phát thanh ở đây lên tiếng và lo ngại rằng cá basa của Việt Nam ngon và chiếm 50% thị trường của Mỹ. Điều này có thể làm nông dân Mỹ lo ngại nhưng lại  chứng tỏ rằng chúng ta đã có những bước tiến rất lớn về chất lượng thủy sản. Nếu các bạn ở trong nước có dịp đi thăm vùng San Hose của San Francisco và vào trong các siêu thị thì thấy hàng thực phẩm của Việt Nam đầy tràn, nhất là mặt hàng tôm càng xanh, ngon và rẻ, người Mỹ rất ưa chuộng. Về giày dép, tôi mua một đôi giày Việt Nam để đi thì nhiều người nói đừng có mua đồ Việt Nam vì dởm lắm, đi không được. Nhưng thực ra tôi đã xài đôi giày này 8 năm. Điều đó chứng tỏ hàng Việt Nam tốt và rẻ…”.

Rồi một trí thức trẻ đứng lên. Em nói em  tên là Giang và em là lớp người trẻ, không quan tâm tới chính trị. Em chỉ quan tâm tới làm ăn kinh tế. Em đã có dịp tới làm ăn ở Việt Nam nhưng đã thất bại. Nay em muốn được đầu tư vào Việt Nam lĩnh vực tư vấn, mời các chuyên gia giỏi về kinh tế của Mỹ để tư vấn cho các nhà doanh nghiệp Việt Nam có được không?…

Không khí của cuộc tiếp xúc bỗng ran lên bởi những tiếng cười khi có một nữ Việt kiều còn rất trẻ, chừng trên 20 tuổi, đã rất vất vả để diễn đạt lời phát biểu bằng tiếng Việt. Nhưng rồi sự cố gắng của cô cũng không thành. Cuối cùng cô đỏ mặt xin phép mọi người được phát biểu bằng tiếng Anh. Thật hài hước và hóm hỉnh, Phó Thủ tướng Thường trực của ta sau khi nghe cô nói đã chúc cô cố gắng đừng quên tiếng mẹ đẻ của mình – nơi mà cô đã từng sinh ra. Phần phát biểu của Việt kiều ta ở Mỹ tập trung hỏi nhiều về luật đất đai; rằng bà con Việt kiều ở nước ngoài muốn mua nhà, mua đất ở trong nước, liệu sau này có được chuyển nhượng cho người thân không; rằng Nhà nước Việt Nam có cho quyền họ hoàn toàn tự do kinh doanh trên đất của họ cho dù họ có tới hàng chục ha đất hay không? Vân vân và vân vân… Ngoài việc Phó Thủ tướng phải trả lời, khi bà con Việt kiều ta đề cập tới những vấn đề cụ thể thuộc từng lĩnh vực nào thì ông đều yêu cầu các Bộ trưởng Vũ Khoan, Trần Xuân Giá và Nguyễn Mạnh Kiểm phải giải đáp.

Kết thúc cuộc gặp gỡ giữa Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và bà con Việt kiều ta ở Mỹ là tiếng nói của ca sĩ Ái Vân mà những người yêu thích âm nhạc Việt Nam chắc chưa quên. Ái Vân vẫn dịu dàng, duyên dáng và xinh đẹp như thuở nào. Chỉ có điều tôi thấy ánh mắt cô buồn. Tôi cảm nhận đó là đôi mắt buồn như muôn vạn đôi mắt buồn của người xa xứ mà tôi thường gặp trên khắp các nẻo đường ở đất trời Tây. Nhìn cô, tôi ước ao rằng trên đời này, đừng có bao giờ để những người con gái xinh đẹp phải buồn vì họ là hoa của đất trời. Với Ái Vân, cô đã đành lòng dứt áo rời bỏ Tổ quốc ra đi trong sự tiếc nuối của biết bao  khán giả ngưỡng mộ tài năng và sắc đẹp của cô. Hôm nay, ở đất xứ người, cô thanh minh rằng phải xa đất nước vì những lý do riêng. Và cô ước ao được trở về đất nước để hát những bài ca về đất nước, về con người Việt Nam… Tôi tin đó là điều cô nói thật. Và, chẳng cứ gì cô, đa phần những người Việt Nam xa xứ mà tôi thường gặp đều có một nỗi lòng như thế…

San Francisco

13 tháng 12 năm 2001

 

Hữu Ước
“Cả cuộc đời tôi chỉ làm báo và viết văn. Tôi không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo CAND - ANTG và VNCA cho tốt. Đấy là với tư cách một Tổng biên tập. Còn với tư cách con người thì tôi muốn cuộc sống có ý nghĩa và bình an.”