Đám ma hủi

Lão Nhiêu mấp máy môi thều thào gọi người vợ hờ của lão – mụ Thuận “phò” – ấy là cái tên mà cả làng Ngũ Xá đặt cho người đàn bà quá lứa không chồng mà có ba con:

- Mình… mình ơi!… Tôi… tôi… mình… mình cho gọi… thằng… thằng… Tang… đến… đến… cho… cho… tôi…

Mụ Thuận ái ngại ngồi xuống bên lão. Nhìn người tình teo tóp trong chiếc chăn rách, chân tay loét lở, sần cục, rỉ nước đỏ nhờ nhờ màu máu cá, bốc mùi thum thủm, khăm khẳm thối, nước mắt lạnh như đá và mặn như muối của người đàn bà chưa một lần biết khóc giàn chảy trên môi. Bây giờ thì mụ mới thấm thía cái nỗi đau, cái tủi hờn và cảm nhận thấy thế nào là cô đơn, bất hạnh. Dường như cái bản ngã của người đàn bà vốn quen nhìn đời chỉ như trò chơi, hay nói đúng hơn mụ sống, hành động như một con vật vô cảm, lại thức dậy cựa quậy và phản kháng trong người, làm mụ đau đớn. Đôi vai mụ vật vã, rung giật, và vì thế sự phản kháng cuối cùng của mụ là quyết không để một giọt nước mắt nào phải chảy xuống đất. Nhưng dòng nước mắt vẫn giàn chảy để vơi nỗi lòng nhưng đôi môi khô dày, nứt nẻ của mụ thì hứng lấy. Mụ uống vào lòng như nuốt đi sự đắng cay của cuộc đời. Đôi mắt mụ vẫn dán chặt vào khuôn mặt vô hồn của người sắp chết, rồi mụ nhìn thằng Tang – đứa con, sản phẩm của lần chung tình bất chợt với lão Nhiêu…

Ngày ấy, mụ nhớ lắm. Đang mùa mưa bão, nước lũ sông Luộc ào ào, vần vũ dâng ngập làng bồi Ngũ Xá. Chiếc thuyền chở lão Nhiêu như một chiếc lá tre trôi veo veo giữa một biển nước đục ngầu. Chiếc thuyền dạt vào bụi tre trước cổng nhà mụ Thuận. Vừa đẩy thuyền ra, lão gọi với vào trong nhà tre nước ngập tới lưng vách:

- Mụ Thuận… thằng Tỉnh…, thằng Tình còn cả chứ?

Tiếng người đàn bà tru tréo vọng ra:

- Cái lão chết tiệt này, chỉ gở mồm, có chết cái đ… đây này – Kèm theo là tiếng vỗ bì bạch. Mụ Thuận vỗ vào đâu thì lão biết rồi. Nghĩ thế, lão Nhiêu cười cùng cục rồi đẩy thuyền vào.
Lão ngây người trên thuyền, há hốc mồm, hết nhìn cặp đùi trắng, to như bắp chuối của mụ Thuận do xắn quần tới bẹn, lại nhìn hai đứa con của mụ – thằng Tỉnh, thằng Tình, nước da đen bóng, trùng trục cùng mẹ nó lặn ngụp kê giường, phản lên cao. Mụ Thuận dừng tay, quất cái nhìn thẳng căng không thiện với lão Nhiêu: “Trông thấy việc thì nhảy xuống mà làm chứ”. Rồi mụ hích hích cười: “Sao cứ đứng thộn như thế?”. Lão Nhiêu nhảy tòm xuống nước. Chẳng nói chẳng rằng, lão bê hai thằng con trai của mụ ném vào thuyền, rồi lão đẩy tít ra xa. Xong, lão hì hục cùng mụ Thuận kê đồ, nhưng đôi mắt cứ dán chặt vào hai thằng con mụ Thuận. Trời ơi, lão ngu quá. Vàng đây, thượng đế đây, chúa trời đây, vậy mà lão không biết. Mụ Thuận đẻ rặt con trai, còn vợ lão thì chỉ nặn ra lũ vịt giời. Đó là nỗi đau không chỉ của lão mà là của cả dòng họ lão. Lão là trưởng của dòng họ Bùi.chuon-chuon

Từ bao đời nay, dòng họ Bùi đã để cho ông lão, bố lão, rồi đến lão một ngôi nhà thừa tự hương hỏa 5 gian mái ngói trên mảnh đất 5 sào với cái ao những một mẫu tám sào. Buồn nhất là những ngày giỗ tổ, nhìn ba đứa con gái cũng tập tọng lối sống thành thị mắt xanh mỏ đỏ lượn lờ quanh bàn thờ tổ, lão não hết lòng. Vì thế mà khi ba đứa con gái lão đến tuổi 19, 20 có đám dạm hỏi là lão tống khứ đi hết. Không đám cưới của đứa con gái nào lão cho làm ở ngôi thừa tự mà lão đang ở. Và cứ mỗi đám cưới con gái xong, lão lại lẳng lặng thắp nén hương lầm rầm tạ tội với tổ tiên. Những giọt nước mắt đau khổ của lão chảy theo độ lâu mau của nén hương. Lão cầu khấn một đứa con trai để thừa tự. Trước bàn thờ tổ tiên lão hứa thế. Nhưng để có đứa con trai ở đâu thì lão chịu. Tất cả nỗi bế tắc, uất ức dồn nén theo năm tháng, ngày một nặng dần như trái núi đè sấp đè ngửa cuộc đời, lão đều trút lên đầu mụ vợ lì lợm đến ngu dại và ba đứa con gái khốn khổ của lão. Việc đầu tiên là lão đuổi mụ vợ của lão khỏi gian nhà thừa tự xuống bếp. Việc thứ hai là cả ba đứa con gái đi lấy chồng, lão không cho một hào một cắc. Còn lão, lão sống trong sự đau khổ uất ức tới tột cùng.

Cho tới hôm nay, lão gặp mụ Thuận trong hoàn cảnh này. Lão cứ ngây dại với ý nghĩ mông lung trong đầu. Nhìn khuôn mặt ngây thộn của lão, mụ Thuận ném cái nhìn sắc như lưỡi dao liếm khắp cơ thể săn chắc, ăn nắng, ăn gió của lão. Mụ lấp lửng: “Thèm lắm phải không?”. Lão Nhiêu gật đầu. Thật tự nhiên, từ trong đáy lòng, cái bản ngã của thằng đàn ông bỗng trỗi dậy mạnh mẽ, cuồng nhiệt đến cháy bỏng. Dường như không thể kìm giữ được nữa, lão ào vào người mụ Thuận. Mụ Thuận vội vàng đẩy lão ra. Càng đẩy, lão càng áp sát và dồn người đàn bà vào chân tường. Đôi mắt lão nổi chằng những tia máu đỏ. Lão cuống cuồng giật tung chiếc áo cánh trên người mụ Thuận và úp cả bộ mặt sần sùi, u cục của lão vào bộ ngực phốp pháp, nõn nà của mụ. Và, đôi bàn tay tục tĩu của lão thọc vào đũng quần của người đàn bà. Lão phì phò thở trong một giấc mơ tiên. Lão đang mơ về một đứa con – lão cứ mường tượng một thằng con trai giống lão và béo trục tròn như thằng Tỉnh, thằng Tình của mụ Thuận. Nghĩ thế, lão vít đầu mụ Thuận vào ngực và gấp gáp nói rằng mụ phải đẻ cho lão một thằng con trai. Cả cái gia tài thừa tự của dòng họ lão sẽ thuộc về nó. Nó sẽ có một gian nhà ngói năm gian, năm sào vườn, hơn mẫu ao. Nó sẽ giàu nhất làng. Nhất định thế. Nó sẽ đón mẹ con mụ về. Mụ sẽ không phải vất vưởng, bữa đói bữa no, phải sống trong ngôi nhà mục nát như thế này. Mụ Thuận gật đầu lia lịa. Mụ có nghe được gì cái điều mà lão Nhiêu nói. Mụ đang rên rỉ trong niềm hoan lạc tột cùng…

Sau lần ấy, lão Nhiêu bị cảm hàn. Điều này chỉ lão biết. Cái sức lực dồn nén của tuổi già giống như ngọn đèn hết dầu bỗng vụt chói lòa để rồi tắt lịm. Lão rất tin như thế và lão đã làm như thế. Bao nhiêu tinh lực tích tụ của những năm tháng mong mỏi, khao khát một đứa con trai, lão đã dốc kiệt vào mụ đàn bà đang độ tuổi hồi xuân. Nằm liệt giường nhưng trong đầu lão bung như hoa cà, hoa cải với những dự định. Lão sẽ đặt tên cho đứa con trai lão là gì. Lão sẽ làm lễ ra mắt với dòng họ tổ tiên ra sao khi đứa bé chào đời. Lão sẽ thừa tự căn nhà hương hỏa của tổ tiên lão cho thằng bé… Lão nghĩ là lão làm. Lão hì hục viết tờ di chúc. Thật khổ cho mụ vợ bị lão bỏ rơi. Những ngày lão ốm, mụ cũng tất tưởi thuốc thang, cơm cháo. Chỉ sau một tuần, đầu lão trọc lốc, tay chân loét lở, sần mụn chảy nước vàng và lên mùi. Tuy vậy, vợ lão vẫn cần mẫn, hì hục phục vụ lão trong câm lặng cũng như lão đã câm lặng bao nhiêu năm nay với mụ. Ba đứa con gái lão lấy chồng ở quanh làng, thỉnh thoảng cũng đảo về nhòm lão như nhòm một thây ma. Chúng bảo lão thối và khắm lắm, không chịu được. Ngửi mùi thối, chúng bảo đó là dấu hiệu tử khí của người sắp chết. Chúng ngước nhìn căn nhà 5 gian, mảnh vườn và cái ao để ước lượng thời giá…

Cho đến một ngày, mụ Thuận vác cái bụng lùm lùm vào nhà lão. Lão biết rằng lần ân ái ấy đã ra hoa kết trái. Sung sướng quá, lão tu lên khóc. Cơ sự vỡ ra trở thành một cuộc chiến tranh của gia đình lão Nhiêu. Bắt đầu từ người vợ tưởng rằng bao nhiêu năm quen nín nhịn, nhu mì bỗng thăng thiên phát hỏa bằng việc không cho lão ăn, không lau rửa và thay bằng những trận chửi rủa, nhiếc mắng hằng ngày. Ba đứa con gái của lão thì tung tin khắp làng xóm rằng lão bị hủi. Họ còn nói rằng nếu ai không tin cứ đến khắc biết. Cô, chú họ hàng có đến cũng không chịu được mùi khẳm thối bay ra từ con người đang nát rữa. Vậy là họ tin. Dòng họ lão quyết định một cuộc họp quan trọng lấy biểu quyết phải tống lão ra khỏi căn nhà thờ họ. Nhưng tống lão đi đâu thì cả họ không nghĩ ra. Cuộc họp đi vào bế tắc. Giữa lúc ấy thì mụ Thuận và hai thằng con trai xuất hiện. Mụ cứ phưỡn bụng đi thủng thẳng khắp khoảng sân nhà lão Nhiêu và ngó từng bộ mặt của những người trong dòng họ Bùi. Đó là những phút giây nặng nề như chết. Rồi mụ ré lên cười, tiếng cười ngạo mạn, khinh bỉ, đầy thách thức làm nổ tung những cái đầu đang bốc lửa của mỗi người. Hai, ba người trong dòng họ Bùi đã đứng lên. Một người lên tiếng trước:

- Mụ Thuận “phò”, mụ muốn gì?

Chỉ chờ có thế, mụ Thuận cởi phăng chiếc áo đang mặc để lộ một nửa người trắng như lợn cạo dưới ánh trăng. Mụ vỗ phành phạch:

- Tôi muốn dòng họ Bùi nhận lấy thằng trưởng họ của các người. Bụng tôi căng nhọn thế này, đích thị là con trai rồi… Còn bây giờ, tôi nhân danh đứa con trưởng họ của các người muốn các người phải cưu mang bố nó. Các người định đuổi bố nó đi đâu? ở đâu?

Cả cái đám đông của dòng họ Bùi lặng đi, không ai nói được một lời. Họ nhìn nhau bằng ánh mắt của lũ ăn trộm ngày bị bắt quả tang. Vẫn là tiếng nói tự tin của người đàn bà chửa:
- Các người phải trả lời tôi đi. Các người định ném bố nó đi đâu? Hay các người định mang trôi sông bố nó? Thế rồi mai đây, nó sẽ thay mặt dòng họ Bùi của các người thờ cúng tổ tiên các người như thế nào đây? Nó sẽ nói với tổ tiên, ông bà ông vải các người thế nào đây?
Một người trong dòng họ Bùi lên tiếng:

- Nếu nó là bố của con chị thì chị rước nó về mà nuôi. Họ tôi chịu…

Mụ Thuận lại cất tiếng cười. Chao ơi, tiếng cười cay độc của mụ giữa đêm khuya thanh vắng nghe mà ngạo nghễ, khinh miệt, xói tai dòng họ Bùi làm sao! Mụ nói:

- Tôi biết, các người sẽ trả lời như thế. Các người là một lũ hèn, một lũ đốn mạt. Các người không còn là những con người…

Rồi mụ phẩy tay, hai đứa con trai mụ chừng trên 10 tuổi theo mẹ xăm xăm bước vào căn nhà tỏa ra cái mùi khẳm thối. Người đàn bà lực lưỡng được hai đứa con trai giúp sức xốc lão Nhiêu trên vai và đi về căn nhà lụp xụp của mụ…

Và mụ nuôi lão Nhiêu bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng? Mụ không nhớ. Với lại mụ nhớ để làm gì. Cái phận của người đàn bà dù chỉ ăn nằm với đàn ông có một lần cũng để nhớ để thương đã mách bảo mụ phải thế. Còn đứa con – giọt máu của lão Nhiêu – đang lớn dần trong bụng cũng mách mụ phải thế. Mụ chấp nhận, cam chịu và coi đó như là số phận. Trong những ngày nuôi lão Nhiêu, mụ cứ vân vi tìm một cái tên cho đứa con sắp ra đời. Đầu tiên mụ định đặt tên nó là Bùi Hận. Nhưng tên Hận xem ra có vẻ cay đắng, thù hận với cuộc đời quá. Mà cuộc đời thì là cái chó gì. Nghĩ thế, mụ cười ruồi. Rồi mụ định đặt tên nó là Nhiễu. Nhiêu – Nhiễu. Được lắm. Nhưng nghĩ lại cái tên này ngộ đâu là điềm gở, điềm quở báo cho mọi sự chẳng lành. Nó ra đời là nhiễu nhương, khốn nạn như bố nó trong cuộc đời này. Nhìn lão Nhiêu, mụ thoáng rùng mình, kinh sợ. Đúng rồi, hai thằng anh nó tên là Tỉnh, Tình, vậy nó tên là Tang. Tỉnh – Tình – Tang. Cuộc đời này là gì? Chẳng là gì cả. Tỉnh – Tình – Tang. Hay lắm. Nó đúng cuộc đời mà xưa nay mụ vẫn chấp nhận: Sống, ăn và làm, lam lũ, cực nhọc, kẻ ghen người ghét, khốn nạn và đểu giả. Nhưng người ta vẫn phải cố ngoi lên để mà sống. Cũng như mụ phải dặt dẹo, vật vã để mà sống. Cũng có những lúc mụ như sờ nắm thấy hạnh phúc. Ấy là những lần có những thằng đàn ông lần đến với mụ. Chúng hứa hẹn, chúng thề non hẹn biển để rồi chúng rúc đầu vào lòng mụ vuốt ve, hôn hít và hùng hục làm cái chức phận cuồng dại của thằng đàn ông. Còn mụ, mụ ôm chúng vào lòng và tận hưởng cái kỳ ảo, huyền diệu của tình yêu. Mụ như mê đi, mộng mị với tương lai do kẻ say tình xây đắp và do chính mụ nghĩ ra. Mụ sẽ có một tổ ấm gia đình. Mụ có một người chồng, một cái cột cái trong nhà để ngày ngày mụ tựa vào đó lần đi ra cửa. Để sau mỗi lần tần tảo cực nhọc kiếm ăn về, mụ sẽ được một bàn tay thô tục của người đàn ông ôm mụ vào lòng, vuốt ve, chiều chuộng. Mụ sẽ có những đứa con. Chúng sẽ là hơi thở, là mặt trời bé con của mụ. Ôi, cái gia đình thần tiên bé bỏng của mụ. Mụ thèm lắm và khát khao lắm. Nhưng cái hạnh phúc những tưởng đã làm mụ quằn quại, rên xiết, ôm chặt nó vào lòng như ôm một báu vật mà không một ma lực nào có thể cướp đi được, thì chỉ sau những giây phút no nê, thỏa mãn cái dục vọng của thằng đàn ông, nó bỗng rơi tõm đi, mất biến như hòn đá ném giữa biển khơi. Đời chó má quá. Mụ chỉ biết nín lặng chửi đời như vậy để rồi đêm đêm mụ vẫn thấp thỏm, chờ đợi một cái gì có thật cho riêng mụ, của riêng mụ.

Những thằng đàn ông đến rồi đi. Một cái bóng, hai cái bóng, rồi ba, bốn, năm, sáu, bảy… Mụ vẫn hy vọng, chờ đợi và cuồng say như cá đớp trăng. Cho đến khi thằng Tỉnh, thằng Tình ra đời. Mụ thèm lắm những tiếng gọi bố của những đứa con. Nhưng sự thật thì chúng chỉ là những lũ chó hoang chạy rông trước mặt bọn đàn ông đã bước qua đời mụ. Và đến cái lão Nhiêu này, mụ sướng đến phát điên lên khi giữa bàn dân thiên hạ, lão dám nhận là bố của đứa con vẫn còn nằm trong bụng. Với mụ, tờ di chúc thừa tự căn nhà ngói năm gian, vườn cây, ao cá của dòng họ Bùi có ý nghĩa gì. Mụ nguyền rủa cả ngôi nhà thừa tự ấy. Đã có lúc mụ chửi đổng: Nó là cái đ… gì đối với mẹ con mụ. Mụ muốn được làm vợ, làm mẹ và con của mụ có cha. Vậy thôi, thế là đủ, là ước vọng lớn lắm rồi. Vì thế mà lão Nhiêu chỉ còn một thân hình ma dại, một căn bệnh hủi của vợ con, dòng họ Bùi, bị ruồng rẫy, xua đuổi thì mụ lại đón lấy, hứng nhận. Mụ chữa chạy cho lão Nhiêu bằng tất cả sức lực, khả năng và niềm hy vọng của mình. Mụ quyết giành sự sống cho lão Nhiêu và thấp thỏm chờ mong từng phút, từng giờ đứa con của lão Nhiêu ra đời. Rồi đứa bé ấy cũng ra đời. Nó là thằng Tang của ngày hôm nay, tròn trịa, kháu khỉnh đang lẫm chẫm bước đi và bập bẹ gọi được tiếng bố đầu đời thì cũng lúc cuộc chiến tranh giữa bố nó, một người sắp chết và ba người con của người vợ cả xảy ra ác liệt về quyền thừa kế ngôi nhà thờ tổ. Ba người con gái lão Nhiêu làm đơn đưa lão ra tòa. Luật nước, phép làng lẽ nào lại thừa nhận thằng Tang, một đứa con hoang lại được quyền thừa kế. Vậy là ba chị em nó thắng kiện. Cái trát sét đánh ấy của tòa bay đến tai lão, làm lão quỵ hẳn. Lão quyết chết nên lão không ăn, không ngủ. Cho đến lúc lão chỉ còn thoi thóp thở thì lão bảo mụ Thuận và thằng Tang lại. Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời mụ khóc…

Câu chuyện này kết thúc thật buồn. Lão Nhiêu chết và đám tang diễn ra như một cái đám tang của người hủi. Đám tang không được vợ con, họ mạc, hàng xóm thừa nhận. Mụ Thuận phải cầm cố hai sào lúa non để mua được một cỗ quan tài và thuê bốn cửu vạn đi chôn. Nhưng cái xác người hủi thì biết chôn ở đâu?. Làng trên xóm dưới xua đuổi, đúng là xua đuổi một căn bệnh hủi. Bốn người cửu vạn chôn thuê khênh chiếc quan tài tới cánh đồng Ngũ Xá thì dân làng Ngũ Xá vác cuốc, vác gậy ra đuổi, vợ con, dòng tộc họ Bùi lặng thinh. Họ coi đó là việc của xã, của làng. Mụ Thuận lạy lục nhóm cửu vạn khiêng sang cánh đồng làng Phúc Xá thì bị du kích vác súng gươm ra chặn. Họ bảo người làng Ngũ Xá về đất Ngũ Xá mà chôn, sao lại rước con hủi về xã, về làng của họ. Đám cửu vạn lại đòi thêm tiền nhưng mụ Thuận đã hết. Vừa mệt, vừa tức với lại cũng không muốn dây vào cái xác hủi, cánh cửu vạn khênh chiếc quan tài lão Nhiêu tới con đường cái giáp ranh giữa hai làng Ngũ Xá – Phúc Xá, bỏ đấy rồi chuồn…

Tin về cái đám ma hủi không nơi nào cho chôn cất được một bạn đọc phản ánh cho bản báo chúng tôi. Nhóm phóng viên điều tra của chúng tôi xộc xuống làng Ngũ Xá và tìm đến nhà mụ Thuận. Mụ Thuận đi vắng hay đang đi tìm mảnh đất nào để chôn được người chồng hủi, chúng tôi nào có biết?.

Chúng tôi gặp thằng Tang, mặt nhọ nhem nhọ thỉu đang tha thẩn chơi ở đầu ngõ. Thấy chúng tôi, nó khoe ríu rít rằng nó được ăn cơm thịt. Thì ra bố nó chết, mẹ nó làm mâm cơm cúng và vì thế lần đầu tiên trong đời nó được ăn cơm thịt…

Hữu Ước
“Cả cuộc đời tôi chỉ làm báo và viết văn. Tôi không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo CAND - ANTG và VNCA cho tốt. Đấy là với tư cách một Tổng biên tập. Còn với tư cách con người thì tôi muốn cuộc sống có ý nghĩa và bình an.”