Vòng vây cô đơn

Mờ sáng, Toàn đã tới nhà tôi. Anh dựng tôi dậy, thở hổn hển:
- Anh ơi, Hạnh đi mất rồi. Hạnh để lại cho em lá thư này.
Toàn lập cập móc túi, lôi ra một mảnh giấy ghi vẻn vẹn ba chữ: “Vĩnh biệt anh!”. Nhìn nét chữ, tôi biết đó là chữ của Hạnh.
Toàn ngồi thừ ra, mặt xám như đổ chàm. Tôi gắt lên:
- Sự thể thế nào, mày nói nghe!
Toàn bảo:
- Em và Hạnh đã bỏ nhau lâu rồi.
Tôi cắt ngang:
- Tao biết.
- Rồi đêm qua, khoảng 10 giờ, Hạnh gọi gấp gáp. Em mở cửa, Hạnh ào vào.

Em chẳng còn biết gì nữa, chỉ ôm Hạnh vào lòng. Chắc anh biết, em và Hạnh vẫn còn yêu nhau, dù Hạnh đã đi qua bao nhiêu mối tình nhưng Hạnh không quên được em. Còn em, em cũng không quên được Hạnh, dù Hạnh có lỗi, Hạnh phản bội em. Tình yêu lạ thế, khi mình bỏ đi thì nó đến, còn khi mình đến nó lại bỏ đi. Đêm qua, chưa bao giờ Hạnh yêu em đến thế và cũng chưa bao giờ em yêu Hạnh đắm say như vậy. Chúng em yêu nhau. Rồi cả hai cùng khóc. Em bảo Hạnh: “Em xin lỗi mẹ anh đi, rồi mình lại về với nhau”. Hạnh bảo: “Lỗi của em là do anh. Anh phải biết giữ em lại chứ. Đằng này, anh lại bỏ em. Anh xin lỗi em đi rồi em về xin lỗi mẹ”. Hạnh ghì riết lấy em. Em khóc vì uất hận và tủi hờn. Hạnh bỏ em, chứ em đâu bỏ Hạnh. Vậy thì sao em phải xin lỗi. Từ ngày Hạnh bỏ đi, đêm nào em cũng mơ thấy Hạnh. Xa Hạnh, em không thể chịu nổi. Trong khi ấy có nhiều cô gái đến với em. Họ là diễn viên điện ảnh, là hoa khôi trong các kỳ thi hoa hậu. Có cô bảo em: “Anh là ước mơ của nhiều cô gái”. Em bảo: “Vì sao?”. Họ nói: “Vì anh có tiền và có tài. Gái ham tài, trai ham sắc”. Chưa bao giờ em thấy chán đời như khi nghe họ nói. Em cứ nghĩ khi yêu, người ta chỉ cần có một trái tim và một tấm lòng. Khi Hạnh bỏ em, em cũng định nổi loạn. Em sẽ đến với nhiều cô gái đẹp để Hạnh biết rằng: “Trên đời này, không phải chỉ có Hạnh là đàn bà. Nhưng rồi gặp lũ người thực dụng chỉ có xác mà không có hồn, em chán lắm. Có những người đàn bà, thoạt nhìn đã muốn yêu, vậy mà khi họ cởi bỏ quần áo ra, em lại bảo họ mặc vào. Có thể là họ trơ trẽn, vô duyên quá, cũng có thể là lúc ấy em còn yêu Hạnh, còn nhớ tới Hạnh, em không nỡ làm như thế. Từ đó, em như người trên dây, lơ lửng giữa không trung. Em biết rằng em không thể thiếu Hạnh. Vậy mà đêm qua…”.

Toàn dừng lời, mắt đỏ hoe đưa tay quệt ngang mặt: “Chỉ một lời xin lỗi lấy lệ để Hạnh quay về, em đã không làm nổi. Hạnh cũng chỉ cần một câu xin lỗi mẹ em là chúng em không phải cô đơn, khổ sở thế này mà Hạnh cũng không làm được. Sự ngăn cách và chia lìa chúng em chỉ là sợi tóc. Một sợi tóc mỏng manh, rất nhỏ nhưng lòng tự trọng, tính sĩ diện hão đã làm bọn em không đủ dũng cảm bước qua. Vậy là mãi mãi chúng em mất nhau”.

Tôi còn biết an ủi Toàn thế nào. Tôi coi hai đứa như em trai, em gái của tôi. Ban đầu, chúng đến với nhau tự nhiên. Như sự tự nhiên của thế giới đàn ông và đàn bà. Chúng học đại học cùng khoá và cùng lớp. Chúng đều thích văn chương. Bố Hạnh là vụ trưởng, thủ trưởng trực tiếp của cơ quan tôi. Ông là lớp người ít được học, nhưng ông có đủ đức tính của một thủ trưởng cơ quan lớn: liêm khiết đến thanh bạch, thông minh đến độ sắc sảo, ít có việc gì khuất tất qua nổi mắt ông. Vì thế mà ông có uy. Đối với ông, công việc là công việc. Việc công phép nước, ông điều hành thẳng băng như mực. Cái duy nhất mà ông thiếu, đó là sự ấm áp, chân tình của một con người. Ở cơ quan, ông chẳng yêu ai và quý ai, ngược lại cũng chẳng ai yêu ông và quý ông. Ông nhìn mọi người như một tảng băng. Còn mọi người nhìn ông bằng con mắt vô hồn. Có lẽ người mà ông yêu thích nhất trên đời này là Hạnh – con gái ông. Một lần, ông bảo tôi: “Chú sẽ cho Hạnh vào nghề làm báo. Nó sẽ về phòng cháu. Cả thằng Toàn, người yêu của nó nữa – ông cau mặt, hỷ mũi – Cái thằng bậy bạ hết sức. Nhưng biết làm thế nào được, vì chúng yêu nhau”. Sau này, tôi mới hiểu vì sao lần ấy khi nhắc đến Toàn ông khó chịu thế. Trong năm học cuối cùng ở trường đại học, người ta bắt được Toàn và Hạnh ngủ với nhau. Kỷ luật của trường là đuổi học. Nhưng ông tới trường xin. Ông bắt Toàn làm giấy cam đoan phải lấy con gái ông. Để giữ Toàn, ông cho cả hai đứa về phòng tôi. Ban đầu, tôi nhìn Hạnh như một đứa con quan được nuông chiều và hư hỏng. Nhưng rồi cái tuổi trẻ trung trong sáng, hồn nhiên của Hạnh và Toàn đã chinh phục tôi, bởi thực sự họ là người tốt. Nhưng rồi liệu lớp trẻ như chúng có bị cuộc đời lợi dụng không? Và rồi cái tình yêu của Toàn và Hạnh lúc nào cũng như đôi chim cu gù bên nhau này có một lúc nào đó và vì một cái gì đó sẽ xé chúng chia lìa nhau không? Cái điều vân vi lẩn thẩn của tôi chợt đến khi miền Nam giải phóng. Cơ quan báo cử một tổ phóng viên do ông tổng biên tập phụ trách vào thường trú tại các tỉnh phía Nam. Hạnh và Toàn đều xung phong đi. Nhưng Hạnh được đi đợt đầu. Buổi chia tay, Hạnh bịn rịn lắm. Toàn ôm vai Hạnh. Còn Hạnh cứ áp bộ mặt đầy nước mắt vào bộ ngực vạm vỡ của Toàn: “Em nhớ anh và không muốn xa anh. Anh nhớ ngày nào cũng tới thăm bố nhé. Từ ngày về hưu, ông buồn lắm, giờ lại xa em nữa. Em sẽ năng biên thư cho anh. Ở nhà nhớ em và ngoan nhé!”. Rồi hai đứa hôn nhau. Chúng tôi phải quay mặt đi. Ông phó tổng biên tập thì lầu bầu: “Bọn này nó chẳng coi cha chú là cái gì hết”.

Hạnh đi, không mấy ngày cô không điện hoặc gửi thư và quà cho Toàn. Tôi thấy nhiều lần Toàn quát ở máy điện thoại: “Sao em cứ coi anh như con nít thế. Đừng lo cho anh. Anh khỏe lắm. Ngày nào anh cũng tới thăm bố. Anh biết, em là nhịp sống, là hơi thở, là mặt trời của bố…”. Tôi thầm ghen với lũ trẻ, chúng nó hạnh phúc quá. Còn tôi, tuổi trẻ đã đi qua. Rồi một tháng, hai tháng, những lá thư, những cú điện như thế cứ thưa dần. Có những ngày tôi thấy Toàn cứ như người ngồi trên lửa. Cậu ta hết ra lại vào, chờ đón tiếng chuông điện thoại của Hạnh. Rồi Toàn thở dài. Và, như không còn sức chịu đựng được nữa, Toàn nói với tôi: “Anh ạ, em thấy nóng ruột quá. Dường như có cái gì đó đã đến với Hạnh. Hạnh còn non dại quá, trong sáng quá, mà mắt thì lúc nào cũng long lanh, ảo ảo. Em sợ rằng, cái đô thị sầm uất, cái choáng ngợp của thị trường tư bản với nhiều cạm bẫy đã cám dỗ Hạnh”. Nghe Toàn nói, tôi biết cậu ghen và tôi cũng hoang mang thực sự. Tôi an ủi Toàn: “Mày cứ vớ vẩn. Nó yêu mày như thế, tao tin rằng nó không phải là đứa bội bạc, một chốc một lát là có thể thay đổi được lòng dạ con người”. Nhưng rồi cái linh cảm của Toàn đã đúng. Hạnh và tổ phóng viên vào Sài Gòn. Buổi đầu tiên tại cơ quan thường trú, Hạnh đã gặp một “người hùng”. Gã được trưởng cơ quan đại diện giới thiệu là Trần Thịnh, chuyên viên cao cấp của một bộ trưởng. Hạnh đánh cặp mắt lơ đễnh nhìn gã chuyên viên tốt mã, dáng đàn ông, có giọng trầm ấm và đôi mắt ướt, mơ màng. Cô nghĩ: “Mắt gã thế, chắc chim gái thành thần”. Nhìn mắt người đàn bà, gã biết Hạnh đang nghĩ gì. Gã nói tỉnh queo: “Cô bé xinh đẹp, chắc lại đang nghĩ xấu về anh chứ gì?”. Mặt Hạnh đỏ bừng như người ăn vụng bị bắt quả tang. Từ đấy, gã không vồn vã mà cũng không tỏ ra nhạt nhẽo với Hạnh. Thi thoảng, khi cần nói gì với Hạnh, bao giờ gã cũng bắt đầu từ: “Cô bé…”. Hạnh yên tâm. Gã chơi với mọi người chân tình, xởi lởi, tận tâm, có phần dư thừa lòng tốt và sự hào hoa. Việc đầu tiên gã mua cho mỗi người một cây thuốc Du lịch. Riêng ông phó tổng biên tập, gã thấy ông cứ ngắm vuốt dàn nan hoa xe đạp miền Nam của tay trưởng đại diện. Ngày hôm sau, gã mang tới một hộp 72 chiếc đủ cho cả hai vành xe tặng ông phó tổng biên tập. Còn Hạnh, gã tặng một hộp phấn có cô gái nhảy theo nhạc bính boong. Gã bảo: “Da con gái Hà Nội trắng thế, cô bé chỉ cần phớt một lớp nhẹ, đi đường là khối xe môtô của các chàng trai Sài Gòn phải đâm nhau rồi”. Biết là gã nịnh, nhưng Hạnh vẫn thích. Còn ông Phó tổng biên tập nhìn thấy trò tung hứng của gã, ông lim dim đôi mắt tính toán việc đẩy Hạnh ra làm con mồi câu nhử. Trước đây, ông ghét Hạnh lắm. Đúng ra là ông ghét bố Hạnh. Bố Hạnh là cấp trên của ông. Thời bố Hạnh còn đương chức, trong một đợt xét lương, nâng cấp, bố Hạnh không cho ông lên chỉ vì ông còn trẻ quá. “Mới 40 tuổi mà đã là trưởng phòng, lại còn định đưa lên thượng tá để rồi nay mai lên cấp tướng à!”. Ông thù câu nói ấy của bố Hạnh đã mười mấy năm nay và không bao giờ quên, ông nguyện ghi lòng tạc dạ, chờ dịp phục thù. Dịp ấy đã đến. Bố Hạnh về hưu và Hạnh lại về công tác dưới quyền ông. Ông chưa ra được roi nào với Hạnh thì có chuyến công tác này. Ông sẽ đẩy Hạnh vào cuộc tình với Trần Thịnh. Như vậy ông bắn một mũi tên nhưng trúng ba đích. Trước hết, ông sẽ nhờ được Trần Thịnh là cái cầu dẫn ông có mối quan hệ với bộ trưởng. Biết đâu cái ghế tổng biên tập sẽ rơi vào tay ông. Hai là ông sẽ triệt để khai thác cái túi tiền và sự hào hoa, rộng rãi của Thịnh để kiếm chác trong chuyến đi miền Nam này. Nhưng cái mục đích lớn hơn cả là cuộc tình bất chính của Hạnh, và Thịnh rồi sẽ phải bung ra. ông tin chắc nó sẽ là khối bộc phá xé nát niềm tự hào về cái gia đình thuần phong mỹ tục mà bố Hạnh vẫn rao giảng khi còn đương chức. Hằng ngày nhìn ánh mắt của đôi trai gái cứ vuốt ve nhau, ông đã hình dung ra một cuộc đi săn. Đôi mắt Thịnh như ánh đèn của người thợ săn lành nghề, rọi sáng, chiếu thẳng vào con mồi. Con mồi bắt ánh đèn và người đi săn chỉ việc giương súng lên là nó phải chết. Nhưng ông muốn con mồi sẽ chết nhanh, chết sớm nên ông đã tạo ra những cuộc đi chơi của nhóm phóng viên với Trần Thịnh, hết Vũng Tàu, lại Nha Trang, Đà Lạt. Tiền do Thịnh bỏ ra, ông và nhóm phóng viên cứ việc đi chơi. Cho tới một lần, Thịnh và Hạnh đi tắm biển về, ông thấy má Hạnh đỏ ửng và đôi mắt ướt, long lanh. Hạnh chạy vội vào phòng, còn Thịnh, mắt đờ dại như kẻ ăn trộm len lén đi vào phòng Hạnh, ông mỉm cười, ông biết con mồi đã chết. Chiếc máy ghi âm nhà nghề được ông lôi ra. Ông nhẹ nhàng lách tay qua cửa sổ đặt máy rất gần chiếc giường mà đôi trai gái đang thủ thỉ những lời yêu thương khi chúng yêu nhau. Chuyến đi chơi biển ấy, ông được Thịnh mua cho rất nhiều quà.

Minh họa của Lê Thiết Cương.

Minh họa của Lê Thiết Cương.

Đoàn về tới Sài Gòn thì Trần Thịnh bị bắt. Sự thật gã là một tên lừa đảo. Gã đang có lệnh truy nã. Vì thế gã bắt quen với trưởng đại diện cơ quan báo tôi để có nơi ẩn nấp, ăn nghỉ trong những ngày trốn lệnh truy nã. Khi công an hỏi, ông Phó tổng biên tập tỉnh queo, ông đổ hết tội cho trưởng đại diện và Hạnh. Hạnh chịu trận như một con điếm bị bắt quả tang. Tổ phóng viên thường trú được lệnh bay gấp ra Hà Nội để kiểm điểm về việc – có liên quan tới vụ án Trần Thịnh, ông Phó tổng biên tập ngồi ghế chánh án. Ông cho cả cơ quan báo nghe cuộn băng ghi âm cuộc ân ái hoan lạc của Thịnh và Hạnh. Hạnh không còn chịu nổi. Cô lao ra cửa, xăm xăm chạy lên sân thượng của tòa nhà trước mặt. Mọi người ngơ ngác, không hiểu Hạnh sẽ làm những gì. Trong phòng họp mọi người đều hướng mắt vào Hạnh, ông Phó tổng biên tập mặt lạnh như bom. Ông cất giọng hùng hồn luận tội Hạnh dựa trên quan điểm, lập trường và tính kỷ luật, tính nguyên tắc. Đúng lúc ấy thì Hạnh cởi bỏ áo ngoài. Ánh nắng xiên khoai buổi chiều như trăm nghìn tia ngũ sắc soi rọi lên thân thể người con gái đang độ xuân sắc và bốc lửa đã làm chúng tôi rất đỗi kinh ngạc, ông trưởng phòng tổ chức đang cầm chén nước cứ ngây dại nhìn tấm lưng trần ngọc ngà của Hạnh. Chén nước bỗng tuột khỏi tay rơi đánh xoảng xuống sàn nhà. Ông Phó tổng biên tập cũng dừng ngay những lời lẽ đanh thép. Mồm ông há hốc, hàm răng giả bỗng rơi đánh cạch xuống sàn nhà. Ông cúi xuống chộp thật nhanh và lắp vội vào mồm. Hàm răng giả dính đầy cát làm ông nhăn mặt, nhổ phì phì. Từ trong phòng họp, Toàn lao ra, chạy ào lên sân thượng. Cậu ta chìa hai cánh tay và tấm lưng rộng như cánh phản che khuất Hạnh để tránh ánh mắt của mọi người. Hạnh gạt phăng Toàn ra và cô lột nốt chiếc áo con cầm trên tay quật lia lịa xuống sàn sân. Hạnh rít lên cùng với nhịp đập của chiếc áo lót: “Này thì kiểm điểm này! Này thì ban, thì bệ này!”. Toàn sấn tới. Cậu ta ôm chặt lấy Hạnh gỡ mãi mới lấy được chiếc áo lót ở trong tay Hạnh và vội vàng khoác chiếc áo cánh lên người cô. Buổi chiều ấy, Hạnh không về nhà. Toàn không ăn cơm và ngồi uống rượu suông. Đêm, Hạnh về. Toàn nằm đọc sách coi như không có Hạnh trên cõi đời này. Hạnh lục trong tủ, tìm những thứ gì của Hạnh nhét đầy vào chiếc vali thuở học trò và lẳng lặng ra đường. Cô vẫy chiếc xích lô và xách vali nặng nề bước lên xe, giục đi. Đi đâu, về đâu, nào Hạnh có biết. Cô chỉ thấy rằng cô cần phải đi khỏi cái lũ nửa ma nửa người này. Cũng trong lúc ấy, Hạnh đâu có biết rằng bố cô bị tai biến mạch máu não. Ông đang cấp cứu tại bệnh viện Việt – Xô.

Kể từ hôm Hạnh ở Sài Gòn ra, dư âm về vụ án Trần Thịnh có liên quan tới tiết hạnh của con gái rượu đã làm ông mất ăn, mất ngủ. Là người bố, ông không biết bắt đầu nói chuyện với con gái thế nào về chuyện ấy. Nhưng ông cũng biết rằng ông phó tổng biên tập vẫn chưa quên mối thù cũ, lão sẽ thẳng tay vùi dập con gái ông trong dịp này. Nghĩ vậy và sáng nay ông lấy xe đạp bảo lên cơ quan Hạnh. Đoạn đường từ nhà Hạnh tới cơ quan chưa đầy 2 km. Vậy mà ông đi mất hàng tiếng đồng hồ. Ông dự định sẽ gặp cả ban biên tập báo và ông sẽ vạch tội tay phó tổng biên tập hèn hạ. Ông đã chuẩn bị đủ các tư liệu để chứng minh cái bản chất rắn đóng giả lương của gã; rằng gã đốn hèn đến mức đổi 5 kg gạo mậu dịch hôi xì lấy 5 kg gạo miền Nam của một nhân viên trong cơ quan gửi lão mang hộ. Bằng chứng là lá đơn tố cáo của nhân viên ông còn lưu giữ; rằng lão đã từng ăn cắp 2 bóng đèn của cơ quan bị bảo vệ bắt quả tang và họp chi bộ ông đã cảnh cáo gã; rằng gã có thói xấu là mỗi khi cơ quan có cuộc liên hoan, gã đều chuẩn bị 2 túi nilông để đựng các thức ăn và bia hơi thừa, len lét đút vào túi mang về. Một lần, gã dắt xe ra cổng và vấp ngã, thế là hai túi nilông thức ăn và bia bung ra thì mọi người mới biết gã là thằng ăn cắp. Đấy, ông sẽ nói như thế và ông sẽ khẳng định rằng gã còn có tư cách gì, nhân phẩm gì để mà nhân danh tổ chức, nhân danh chi bộ kiểm điểm, hạ nhục con gái ông. Nghĩ vậy và ông băm băm lao xe vào cổng toà báo.

Nhưng rồi ông khựng lại. Ông xuống xe và cứ lần lữa, chần chừ đứng trước cổng. Trán ông đẫm mồ hôi. Chân ông muốn khuỵu xuống, ông có nên làm cái việc nhỏ nhen và hèn mọn ấy không?

Ông cứ tưởng khi về hưu là ông thanh thản gạt được mọi phiền muộn truân chuyên của cuộc đời mà 40 năm công tác ông đã phải chống chọi và gánh chịu. Ông về với mảnh vườn trồng đầy hoa, về với bà vợ già thích văn chương, thơ phú. Ông bằng lòng đến mức mãn nguyện với các lịch sinh hoạt hằng ngày: 5 giờ sáng dậy đi thái cực quyền, 7 giờ bà vợ già pha cho ông một ấm chè Thái ướp hoa nhài thơm lựng và một tô cháo gà hoặc một cốc sữa và hai quả trứng sột sệt, 8 giờ người đưa thư chuyển báo tới để ông bà đọc, rồi đàm luận những chuyện trên trời dưới biển với vợ cho tới bữa cơm trưa. Ăn trưa xong, ông ngủ cho tới 3 giờ chiều. Rồi cả một buổi chiều bên “vườn thượng uyển” đầy cây hoa, bà ngồi đọc cho nghe những bài thơ tình tuyệt tác của nhân loại bằng cái giọng trầm ấm, lắng đọng của người già và tối tối ông thích thú chờ nghe cái tiếng guốc loẹt quẹt quen thuộc của đứa con gái cưng trở về bên ông. Đã có lần ông ôm đứa con gái bé bỏng của ông vào lòng và nói với nó rằng: Quá khứ vinh quang của ông đã khép lại rồi; giờ ông chỉ còn có nó. Nó là nhịp sống, là hơi thở của ông. Và ông rất cần sự vinh quang của nó để trả cái món nợ lạnh tanh của ông đối với đời và của đời đối với ông. Cho tới một ngày, Hạnh đã mang về cho ông niềm vinh quang tột đỉnh mà ông hằng mong đợi: Giải nhất trong cuộc thi của một tờ báo lớn. Đặt tờ báo còn thơm mùi giấy mực có in bài viết khá dài của con ông lên mặt bàn, ông vừa khóc vừa cười. Thì ra, bây giờ ông mới nhận thấy rằng mọi thứ trên đời chỉ là phù hoa, chỉ còn văn chương, thơ phú mới làm cho con người ta thánh thiện. Cũng từ đấy, ông không còn coi Hạnh là đứa con gái bé bỏng cần được nuông chiều. Hơn thế, ông coi Hạnh là nhân vật quan trọng, là trung tâm trong cuộc đời của ông. Vậy mà giờ đây lẽ nào ông lại để cái thanh danh cao quý của con gái ông rơi tõm vào cái vũng trâu đằm. Ông cứ vân vi như thế cho tới hết một buổi sáng, hết đi lại đến trước cánh cổng mở rộng của toà soạn báo mà vẫn không đủ sức để bước vào. Và rồi, cuối cùng sợi dây bị căng quá tải, ông ngã lăn xuống đất, bất tỉnh. Cũng may, ông ngã trước toà báo. Lão bảo vệ trông thấy và vực ông đưa vào phòng khách làm hô hấp. Mọi người trong toà soạn đổ xô tới nhận ra ông và vội vàng lấy xe đưa ông đi cấp cứu. Bây giờ tôi mới nhớ tới Hạnh. Tôi phóng xe bổ đến nhà Toàn. Toàn nằm chỏng khoeo, chăn trùm kín mặt. Chẳng cần ý tứ, tôi giật phăng chiếc chăn đắp trên người Toàn nói cộc lốc: “Cái Hạnh đâu rồi!”. Toàn nói tỉnh queo: “Đi rồi1”. “Đi đâu?”. “Nó cuốn quần áo, vali đi rồi! Em tin rằng Hạnh sẽ không quay trở về căn nhà này với em nữa”. Tôi nói: “Thôi, chuyện đó tính sau. Bây giờ mày phải đi tìm Hạnh ngay. Ông bố nó bị tai biến mạch máu não, đang cấp cứu ở bệnh viện”. Nghe tôi nói vậy, Toàn bổ dậy hộc tốc lấy xe đi.

Đêm ấy, Toàn cũng tìm được Hạnh đang cô quạnh bên gốc một cây sấu già trên đường Thanh Niên. Toàn đưa Hạnh về và họ lại sống với nhau những ngày ảm đạm, giá buốt như đêm mùa đông cho tới ngày bố Hạnh qua khỏi bàn tay tử thần. Đúng là Toàn và Hạnh vẫn còn yêu nhau thật. Có những đêm nằm bên nhau, cả hai đều nghĩ về tình yêu của họ. Họ đều sợ mất nhau và họ vội vàng quấn chặt lấy nhau trong cơn cuồng say của tình ái. Đã có lúc, Toàn thủ thỉ bên tai Hạnh: “Em ạ, chúng mình phải có con”. Hạnh chỉ cười và không nói. Cô hiểu rằng sau cái vụ án Trần Thịnh, Hạnh không còn gì là lành mạnh dưới con mắt của Toàn. Với lại, chả cứ gì Toàn, bây giờ trong nếp nghĩ của cả những người thân gia đình, bè bạn, Hạnh là người đàn bà nổi loạn. Ngay cả với bố Hạnh, sau ngày đi nằm viện về, ông cũng quay lưng lại với cô.

Cô không còn là mặt trời bé con, là hơi thở, là niềm vinh quang của bố. Nhắc tới cô, bao giờ ông cũng buông tiếng thở dài kèm một lời chép miệng buốt tới tận tim gan: “Số con bé nó khổ, tài hoa bạc mệnh”.

Còn những người bạn gái thân của Hạnh, họ cũng canh chừng mỗi khi chồng họ tiếp cận với Hạnh. Hạnh đã nghe và đã khóc khi hai người bạn gái của Hạnh nói với nhau: “Mày đừng để chồng mày tiếp xúc nhiều với Hạnh. Sự hấp dẫn của nó, sự yêu kiều lẳng lơ của nó sẽ cướp mất chồng mày”. Hạnh đau lắm và cô cảm thấy xung quanh mình là cả một thế giới trống vắng, cô độc. Rồi một đêm, Hạnh quyết ra đi. Đêm ấy, cô cứ ôm riết lấy Toàn mà nước mắt giàn giụa, thấm đẫm bộ ngực vạm vỡ đàn ông của Toàn: “Toàn ơi, Toàn bỏ em đi, Toàn đừng thương em nữa, để em ra đi cho thật thanh thản…”.

Toàn hoang mang thực sự. Anh chẳng còn biết nói gì với Hạnh nữa. Toàn muốn quên đi mọi thứ để hoà nhập với cuộc sống của cô. Toàn sẽ có con. Đứa con sẽ là cầu nối, là phép trừ cho sự mất mát của Toàn. Nhưng rồi Toàn lại thấy tiếc đời. Tuổi trẻ hạnh phúc của Toàn còn đang ở phía trước lẽ nào Toàn phải cam chịu buộc cả đời mình vào người đàn bà đã không còn đức hạnh. Còn bỏ Hạnh, Toàn thấy nhẫn tâm và tự cảm thấy đó là sự mất mát, là vết thương sẽ lúc nào cũng rỉ máu làm nhức nhối suốt cả cuộc đời. Vì thế mà khi nghe Hạnh nói, Toàn chỉ biết câm lặng. Rồi Hạnh lặng lẽ ra đi..

Cho tới hôm nay thì Hạnh đã đi thật rồi. Tôi còn biết nói sao với Toàn lúc này. Nhưng tôi dám chắc Hạnh không quẫn chí mà chết. Hạnh đã từng trải qua mất mát. Cô có thể đi những đẩu những đâu và lấy bất cứ ai, một anh đạp xích lô, ba gác hay một gã cửu vạn nào đó nhưng tôi chỉ mong Hạnh đừng rơi vào cái vòng vây lạnh lẽo của sự nghi kỵ với đồng loại. Cuộc đời có lắm CON nhưng cũng còn nhiều NGƯỜI. Và, vẳng bên tai tôi là tiếng của Toàn gọi tên người vợ bồng bột da diết trong không khí phiêu diêu của buổi sớm sương mù…

Hữu Ước
“Cả cuộc đời tôi chỉ làm báo và viết văn. Tôi không phấn đấu một cái gì khác ngoài việc làm tờ báo CAND - ANTG và VNCA cho tốt. Đấy là với tư cách một Tổng biên tập. Còn với tư cách con người thì tôi muốn cuộc sống có ý nghĩa và bình an.”